Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Khu vực TPHCM. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Khu vực TPHCM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng Dịch vụ bảo lãnh có từ thời kỳ trung cổ tại Hy Lạp, thông qua những giao dịch trong quan hệ cá nhân với cá nhân rất đời thường.
Sau đó, dịch vụ bảo lãnh mới chính thức có mặt trong giao dịch quốc tế và nhu cầu ngày càng tăng. Chính vì vậy, các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ đã phát triển loại hình giao dịch này vào khuôn phép luật pháp. Từ đây, dịch vụ bảo lãnh được áp dụng trên thị trường nội địa Hoa Kỳ vào giữa những năm 60 và sau đó nó được “Quốc tế hóa” như là giải pháp hiệu quả bảo đảm cho nền thương mại và tài chính thế giới phát triển vào đầu thập kỷ tiếp theo. Ngày nay, dịch vụ bảo lãnh thực sự đã trở thành công cụ thông dụng nhất nhằm đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Bảo lãnh không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực các nước phương Tây mà còn rất phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như vùng Trung Đông, Đông Nam Á, Bắc Phi. Dịch vụ bảo lãnh được áp dụng tại Việt Nam từ cuối thập kỷ 80, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Thời kỳ đó, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp quốc doanh tại Ngân hàng không được bảo đảm bằng tài sản tăng lên, cả hai bên vận dụng bảo lãnh của phía thứ ba nhằm khai thông ách tắc trong thể chế tín dụng. Do sự “tự phát” đó nên tính chất của bảo lãnh lúc bấy giờ bị sai lệch: Bảo lãnh không dựa trên cơ sở pháp lý về khả năng tài chính mà dựa vào uy tín, vị thế của Người bảo lãnh.
Hợp đồng tín dụng có thể được bảo lãnh bởi cơ quan chính quyền đoàn thể. Do vậy, bảo lãnh luôn là hình thức nhằm giúp Ngân hàng hợp lý hóa khoản vay. Kết cục là không ít trường hợp Người bảo lãnh không bao giờ có thể trả thay cho doanh nghiệp vay nợ, để rồi các bên đưa nhau ra tòa. Điều này cũng dễ hiểu đối với một nước có tốc độ phát triển kinh tế thị trường nhanh hơn tốc độ hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thiện hệ thống pháp luật như Việt Nam.2 Khái niệm dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng (http://www.com) thì bảo lãnh ngân hàng là một loại bảo lãnh, trong đó ngân hàng hoặc tổ chức cho vay cam kết thanh toán thay cho người mua hàng về các nghĩa vụ của người mua hàng với các đối tác, trong trường hợp người mua hàng mất khả năng thanh toán cho các đối tác.
Tại Việt Nam, theo quy định hiện hành nêu tại Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng được xác định: “là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.” Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của bên nhận bảo lãnh khi đối tác vi phạm cam kết.3 Các hình thức dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng 1.1 Bảo lãnh trong nƣớc: - Thư bảo lãnh: là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. - Hợp đồng bảo lãnh: là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hoặc giữa bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và các bên có liên quan (nếu có) về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. - Các hình thức khác do các bên tự thỏa thuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Bảo lãnh nƣớc ngoài: Bảo lãnh nước ngoài là cam kết bằng văn bản của bên bảo lãnh với bên có quyền ở nước ngoài (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng là Doanh nghiệp trong nước (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trả thay. - Thư bảo lãnh: là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. - Thư tín dụng dự phòng(Standby LC): là một hình thức phát hành thư bảo lãnh được áp dụng tại Mỹ và các nước thuộc khu vực Châu Mỹ Latin. Thư tín dụng dự phòng được mở đơn thuần nhằm phòng ngừa phía đối tác (mở thư tín dụng) vi phạm nghĩa vụ, cam kết gây hậu quả xấu cho người thụ hưởng.
L/C dự phòng chỉ có giá trị thực hiện khi có sự vi phạm của người mở Thư tín dụng.4 Chức năng và vai trò của dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng 1.1 Đối với nền kinh tế Bảo lãnh ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Công cụ này góp phần thúc đẩy sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, trong phạm vi quốc gia và trên toàn thế giới. Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tích cực đẩy mạnh tín dụng thương mại giữa các đối tác và có tác dụng giải quyết đáng kể nhu cầu về vốn trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng thực sự trở thành công cụ thông dụng đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính, trong các giao dịch tài chính lẫn phi tài chính, giao dịch thương mại lẫn phi thương mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.2 Đối với NHTM Bảo lãnh vừa là hoạt động cấp tín dụng, vừa là dịch vụ có thu phí, góp phần gia tăng nguồn thu dịch vụ ngoài lãi vay, được các NHTM quan tâm và luôn hướng đến trong kinh doanh.
Bên cạnh đó, bảo lãnh còn góp phần đa dạng hóa sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tài chính của NHTM, đặc biệt là sản phẩm tín dụng bên cạnh các dịch vụ truyền thống như cho vay, chiết khấu, đồng thời, giúp NHTM bán thêm và bán chéo sản phẩm. Đó cũng là biện pháp hữu hiệu thu hút và giữ chân khách hàng yếu tố cốt lõi quyết định sự thành công. Ngoài ra, dịch vụ bảo lãnh góp phần khẳng định uy tín, vị thế và khả năng tài chính của NHTM, nên rất được chú trọng; đây là hoạt động tiềm ẩn rủi ro nhưng hiệu quả khi được xử lý tốt.3 Đối với khách hàng Đối với khách hàng được bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng hậu thuẫn họ trong các giao dịch mà họ tham gia. Nhờ được bảo lãnh, họ được đối tác tin tưởng hơn, được thuận lợi như: được chiếm dụng vốn hợp lý từ người bán, được vay vốn, được ứng trước tiền,…Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần nâng cao trách nhiệm của bên được bảo lãnh về nghĩa vụ họ phải thực hiện.5 Phân loại dịch vụ bảo lãnh 1.1 Dựa trên phƣơng thức phát hành Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee): - Là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng của người xin bảo lãnh cam kết bồi thường không hủy ngang trực tiếp cho Người thụ hưởng.
- Sau khi đã bồi thường cho Người thụ hưởng, ngân hàng truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người xin bảo lãnh. - Thông thường có ba bên tham gia là: Ngân hàng phát hành, Người xin bảo lãnh và Người thụ hưởng. Khi người thụ hưởng ở nước ngoài, thường có thêm một ngân hàng ở nước người thụ hưởng tham gia làm đại lý cho ngân hàng phát hành với nhiệm vụ thông báo thư bảo lãnh cho Người thụ hưởng. Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee): - Là loại bảo lãnh trong đó người xin bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng ở nước người thụ hưởng (gọi là ngân hàng bảo lãnh) phát hành thư bảo lãnh (gọi là bảo lãnh chính hay bảo lãnh gốc) và chuyển cho Người thụ hưởng.
- Để bảo lãnh gián tiếp có hiệu lực thì ngân hàng chỉ thị phát hành một thư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bảo lãnh cho ngân hàng bảo lãnh hưởng. Thư bảo lãnh giữa hai ngân hàng này gọi là thư bảo lãnh đối ứng hay bảo lãnh giáp lưng (Counter Guarantee or Back-to-Back Guarantee). - Thời hạn của thư bảo lãnh đối ứng phải dài hơn thời hạn của thư bảo lãnh gốc ít nhất là 15 ngày, thông thường dài hơn 1 tháng, ngoài ra cam kết trả tiền của ngân hàng chỉ thị đối với ngân hàng bảo lãnh luôn là vô điều kiện. - Khi xảy ra vi phạm hợp đồng, thứ tự bồi hoàn như sau: Người thụ hưởng truy đòi ngân hàng bảo lãnh; sau đó ngân hàng bảo lãnh truy đòi ngân hàng chỉ thị; và cuối cùng, ngân hàng chỉ thị truy đòi người yêu cầu bảo lãnh.
Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có bốn thành phần tham gia: Người xin bảo lãnh (Principal); Ngân hàng chỉ thị (Instructing Bank); Ngân hàng bảo lãnh (Issuing Bank); Người thụ hưởng (Beneficiary). Do ở cùng quốc gia với ngân hàng bảo lãnh nên quyền lợi của Người thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn.2 Dựa trên bản chất bảo lãnh Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (Accessory Guarantee – Suretyship): Còn gọi là bảo lãnh bổ sung, là một loại bảo lãnh mang tính truyền thống xét theo nguồn gốc ra đời của nó.