Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cơ sở hạ tầng logistics; Chương 2: Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam; Chương 3: Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS 1. Bản chất của logistics 1.
Khái niệm và lịch sử phát triển logistics 1. Khái niệm logistics Hiện nay, khái niệm về logistics có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, theo sổ tay logistics, “the handbook of logistics and distribution management” (2000), nhóm tác giả đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn: “Logistics là khoa học và nghệ thuật giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin, và các nguồn lực khác”. Lambert (1998) 1 cho rằng, logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo Ủy ban Quản lý logistics của Mỹ, logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics” được giải thích như sau: Logistics được hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Lambert (1998), World Marintime University – Đại học Hàng Hải Thế giới LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com Theo Martin Christopher (1992)2, Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hoá lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất. Ở Việt Nam, thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005 (Điều 233), theo đó: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kỹ mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Lịch sử phát triển logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hi Lạp: logistikos, phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Logistics bắt nguồn từ cuộc chiến tranh của hai đế chế hùng mạnh trong thời kỳ cổ đại là Hy Lạp và La Mã. Trong cuộc chiến này, ngoài những chiến binh là những người trực tiếp cầm vũ khí xông ra chiến trận thì có một đội quân ở lại doanh trại với vai trò là hậu phương, được gọi là “logistikas” làm nhiệm vụ phân phối vũ khí và các nhu yếu phẩm cho quân đội ngoài tiền tuyến. Ngoài ra, các logistikas còn có nhiệm vụ chu cấp, chăm sóc ăn uống, vật dụng cá nhân cũng như đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất cho binh lính hành quân an toàn từ nơi này đến nơi khác.
Tưởng chừng logistics là công việc đơn giản nhưng lại có vai trò rất lớn trong quân sự, vì nếu có chút thiếu sót, chậm trễ thì phải đánh đổi bằng sự 2 Martin Christopher (1992), Logistics & Supply Chain Management: Logistics & Supply Chain Management, Pearson UK, 1992. LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com sinh tồn của quân đội nhưng đồng thời, nếu tận dụng và quản lý tốt hoạt động này thì sẽ mang lại lợi ích đáng kể. Napoleon đã từng định nghĩa “Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội” và ông cũng đã từng nói “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistics”. Sau những hiệu quả đạt được trong lĩnh vực quân sự, logistics đã được nghiên cứu mở rộng ứng dụng trên lĩnh vực kinh doanh trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất, mua bán hàng hóa.
Logistics được dịch nôm na là “hậu cần” nhưng không phản ánh hết đầy đủ ý nghĩa vì thế nên ở Việt Nam vẫn sử dụng nguyên mẫu từ “logistics”. Nếu giữa thế kỷ XX rất hiếm doanh nghiệp hiểu được logistics là gì thì đến cuối thế kỷ này, logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong sản xuất và dịch vụ. Có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: logistics tại chỗ (workplace logistics); logistics cơ sở sản xuất (facility logistics); logistics công ty (corporate logistics); logistics chuỗi cung ứng (supply chain logistics); logistics toàn cầu (global logistics), cụ thể: Logistics tại chỗ là dòng vận động của nguyên liệu tại một vị trí làm việc. Mục đích của workplace logistics là hợp lý hóa các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp.
Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của workplace logistics được đưa ra cho những công nhân làm việc trong lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến tranh thế giới thứ II. Điểm nổi bật của workplace logistics là tính tổ chức lao động có khoa học. Logistics cơ sở sản xuất là dòng vận động của nguyên liệu giữa các xưởng làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất. Cơ sở sản xuất đó có thể là 1 nhà máy, 1 trạm làm việc trung chuyển, 1 nhà kho, hoặc 1 trung tâm phân phối.
Một facility logistics được nói đến tương tự như là một khâu để giải quyết các vấn đề đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com đại trà và dây chuyền lắp ráp máy móc (do máy móc không đồng nhất giữa những năm 1950 và 1960). Logistics công ty là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa các cơ sở sản xuất và các quá trình sản xuất trong một công ty. Với công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình. Logistics công ty ra đời và chính thức được áp dụng trong kinh doanh vào những năm 1970.
Giai đoạn này, hoạt động logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối mang tính vật chất. Logistics kinh doanh trở thành quá trình mà mục tiêu chung là tạo ra và duy trì một chính sách dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phí logistics thấp. Logistics chuỗi cung ứng: Phát triển vào những năm 1980, quan điểm này nhìn nhận logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất. Đó là một mạng lưới các cơ sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng…), các phương tiện (xe tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển…) cùng với hệ thống thông tin được kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó.
Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hoá…) được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng. Điểm nhấn trong chuỗi cung ứng là tính tương tác và sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi thông qua 3 dòng liên kết: (i) Dòng thông tin: dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dịch chuyển của hàng hoá và chứng từ giữa người gửi và người nhận; (ii) Dòng sản phẩm: con đường dịch chuyển của hàng hoá và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng đủ về số lượng và chất lượng; (iii) Dòng tài chính: chỉ dòng tiền bạc và chứng từ thanh toán giữa các khách hàng và nhà cung cấp, thể hiện hiệu quả kinh doanh. LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com Logistics toàn cầu là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền tệ giữa các quốc gia. Nó liên kết các nhà cung ứng của các nhà cung ứng với khách hàng của khách hàng trên toàn thế giới.
Các dòng vận động của logistics toàn cầu đó tăng một cách đáng kể trong suốt những năm qua. Đó là do quá trình toàn cầu hoá trong nền kinh tế tri thức, việc mở rộng các khối thương mại và việc mua bán qua mạng. Logistics toàn cầu phức tạp hơn nhiều so với logistics trong nước bởi sự đa dạng phức tạp hơn trong luật chơi, đối thủ cạnh tranh, ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hoá, và những rào cản khác trong kinh doanh quốc tế. Phân loại hoạt động logistics Thế kỷ 21, logistics đã phát triển mở rộng sang nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau.
Dưới đây là một số cách phân loại thường gặp: a. Theo phạm vi và mức độ quan trọng - Logistics kinh doanh (Bussiness logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng. - Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này.
- Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp.