Tổng quan nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, hướng tới mục tiêu bảo vệ thu nhập cho người lao động khu vực phi chính thức khi hết tuổi lao động. Tính đến hết năm 2018, cả nước mới chỉ có 271 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chiếm khoảng 0,57% lực lượng lao động. Tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ – đô thị loại 1 với quy mô dân số 277.539 người trên diện tích 11.175,11 ha – công tác phát triển loại hình an sinh này vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Dù số lượng người tham gia có xu hướng tăng qua các năm, đến năm 2018 toàn thành phố mới đạt 2.880 người, chỉ chiếm 4,11% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội và tương đương 5,46% lực lượng lao động chưa có lưới an sinh.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện trong bối cảnh thu nhập của người lao động tự do còn bấp bênh và nhận thức cộng đồng chưa đồng đều. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng thu và phát triển đối tượng giai đoạn 2016 - 2018, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp khả thi nhằm đạt chỉ tiêu 3.900 người tham gia vào năm 2019.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn diện 13 phường nội thị và 10 xã ngoại thị của thành phố Việt Trì. Về thời gian, dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong 3 năm từ 2016 đến 2018, kết hợp khảo sát thực địa từ cuối năm 2018 đến đầu năm 2019. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để nâng tỷ lệ tiếp cận chính sách từ 5,46% lên trên 15% nhóm tiềm năng, giảm áp lực trợ cấp ngân sách và củng cố mạng lưới an sinh bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với nguyên lý bảo hiểm xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1999) và nguyên tắc san sẻ rủi ro theo quy luật số lớn. Nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm nền tảng: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện, phát triển đối tượng tham gia và chất lượng dịch vụ an sinh. Khung phân tích được thiết kế dựa trên mối quan hệ tương tác đa chiều giữa bốn trụ cột chính: cơ chế hỗ trợ tài chính từ Nhà nước theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP (hỗ trợ 10% đến 30% mức đóng chuẩn nghèo nông thôn), hiệu quả vận hành của mạng lưới đại lý thu cơ sở, năng lực tài chính tích lũy và mức độ hiểu biết chính sách của người dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2018 từ hệ thống báo cáo định kỳ của Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì và niên giám thống kê địa phương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 150 người lao động (gồm 75 người đang tham gia và 75 người chưa tham gia) cùng 15 cán bộ quản lý và nhân viên đại lý thu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được triển khai tại 3 cụm địa bàn đại diện: phường trung tâm đô thị, phường ven đô và xã thuần nông, nhằm phản ánh đa dạng các nhóm thu nhập từ 3 triệu đến trên 10 triệu đồng mỗi tháng.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm thống kê mô tả, thống kê so sánh, đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) và phân tích ma trận SWOT. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa biến số thu nhập, trình độ học vấn với quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên phần mềm Microsoft Excel, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai trong 12 tháng, từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ phát triển đối tượng tham gia có chuyển biến tích cực nhưng tỷ lệ bao phủ thực tế vẫn ở mức thấp. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Việt Trì tăng từ 2.183 người năm 2016 lên 2.880 người năm 2018, tương ứng mức tăng trưởng 31,9%. Dẫu vậy, con số này chỉ chiếm 4,11% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội toàn địa bàn và mới khai thác được 5,46% dung lượng thị trường tiềm năng.

Thứ hai, cơ cấu người tham gia tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng. Khoảng 70% số người đang đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện là các trường hợp bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước đó, tiếp tục đóng để đủ điều kiện hưởng lương hưu. Nhóm đối tượng tăng mới hoàn toàn chỉ chiếm khoảng 30%. Tỷ lệ lao động tự do nông thôn và tiểu thương tham gia rất hạn chế do mức đóng tối thiểu 138.600 đồng mỗi tháng (sau khi trừ 10% ngân sách hỗ trợ) vẫn tạo gánh nặng đối với các hộ có thu nhập không ổn định dưới 2 triệu đồng/tháng.

Thứ ba, khoảng trống lớn giữa nhu cầu tham gia và khả năng tiếp cận thông tin chính sách. Khảo sát thực tế cho thấy 89,3% người dân bày tỏ mong muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu có chính sách hỗ trợ thỏa đáng. Tuy nhiên, 64,7% người chưa tham gia thừa nhận họ hoàn toàn chưa nắm rõ quy định về quyền lợi hưu trí, trợ cấp mai táng cũng như các phương thức đóng linh hoạt 3 tháng, 6 tháng hay 12 tháng một lần.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên xuất phát từ tính chất đặc thù của lao động phi chính thức với nguồn thu bấp bênh và tư duy tích lũy ngắn hạn. Bên cạnh đó, chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện hành mới chỉ cung ứng 2 chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất, thiếu vắng các quyền lợi ngắn hạn thiết thực như ốm đau hay thai sản.

So với mô hình thành công tại tỉnh Hải Dương (đạt 10.870 người tham gia nhờ mạng lưới 1.014 điểm thu) và huyện Thạch An - Cao Bằng (đạt 86% kế hoạch giao nhờ phương châm giao chỉ tiêu đến từng cán bộ), thành phố Việt Trì chưa phát huy tối đa vai trò của các tổ chức đoàn thể cơ sở. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh đà tăng số thu từ 15,2 tỷ đồng năm 2016 lên 21,8 tỷ đồng năm 2018, song hành cùng bảng thống kê phân tầng mức đóng từ chuẩn nghèo 700.000 đồng đến trần tối đa. Điều này chứng minh rằng việc hoàn thiện mạng lưới đại lý thu và mở rộng gói quyền lợi là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy độ bao phủ an sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới và đa dạng hóa chiến dịch truyền thông chính sách. Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân 23 xã, phường tổ chức tối thiểu 50 hội nghị đối thoại trực tiếp mỗi năm tại các khu dân cư và chợ truyền thống; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng chính sách lên 85% trong giai đoạn 2019 - 2021.

Thứ hai, mở rộng và chuẩn hóa mạng lưới đại lý thu cơ sở. Nâng cấp số lượng điểm thu từ 45 điểm lên trên 100 điểm thu trải rộng tại hệ thống bưu điện, trạm y tế và Hội Phụ nữ. Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cần áp dụng cơ chế giao khoán chỉ tiêu cụ thể, yêu cầu mỗi nhân viên đại lý vận động tối thiểu 2 người tham gia mới mỗi tháng, phấn đấu hoàn thành vượt mức 100% kế hoạch giao hàng năm từ năm 2020.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính và kiến nghị bổ sung chế độ hưởng. Đề xuất Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành nghị quyết hỗ trợ thêm 10% đến 15% mức đóng từ ngân sách địa phương ngoài mức chuẩn quốc gia cho hộ cận nghèo và lao động nông thôn. Đồng thời, kiến nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam nghiên cứu tích hợp gói trợ cấp thai sản và tai nạn lao động trong giai đoạn 2020 - 2023.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số quy trình phục vụ. Đơn giản hóa 100% thủ tục đăng ký tham gia, rút ngắn thời gian xử lý và cấp sổ bảo hiểm xã hội từ 5 ngày xuống dưới 48 giờ thông qua cổng dịch vụ công trực tuyến, triển khai đồng bộ từ quý 4 năm 2019 nhằm nâng cao chỉ số hài lòng của người tham gia lên trên 90%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý Bảo hiểm xã hội các cấp. Lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cùng các đơn vị cấp huyện có thể ứng dụng trực tiếp ma trận phân tích SWOT và mô hình phát triển đại lý thu để xây dựng kế hoạch mở rộng 3.900 đối tượng tham gia hàng năm.

Nhóm 2: Cơ quan hoạch định và tham mưu chính sách an sinh. Cán bộ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội khai thác các số liệu thực chứng về mức đóng 22% thu nhập và hiệu quả mức hỗ trợ từ 15.400 đồng đến 46.200 đồng/tháng để tham mưu chính sách hỗ trợ bổ sung từ nguồn ngân sách địa phương.

Nhóm 3: Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế. Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành khoa học xã hội, kinh tế phát triển có thể tham khảo quy trình khảo sát mẫu 150 người, phương pháp phân tích PRA và khung lý luận mở rộng an sinh phi chính thức làm tài liệu học thuật giá trị.

Nhóm 4: Các tổ chức chính trị - xã hội và nhân viên đại lý thu. Đội ngũ cán bộ Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và nhân viên bưu điện sử dụng tài liệu như cẩm nang nghiệp vụ nhằm nâng cao kỹ năng truyền thông, giải đáp thắc mắc và tư vấn trực tiếp cho 277.539 cư dân tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng thấp nhất tại thành phố Việt Trì hiện nay là bao nhiêu? Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (700.000 đồng), tương đương 154.000 đồng/tháng. Sau khi trừ phần hỗ trợ của Nhà nước theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP (hỗ trợ 30% với hộ nghèo, 25% với hộ cận nghèo và 10% với đối tượng khác), số tiền thực nộp dao động từ 107.800 đồng đến 138.600 đồng mỗi tháng tại 45 điểm thu trên địa bàn.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được thụ hưởng những quyền lợi cụ thể nào? Người tham gia được hưởng 2 chế độ cơ bản: chế độ hưu trí khi đóng đủ 20 năm và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, cùng chế độ tử tuất với trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở. Luận văn ghi nhận 89,3% người được khảo sát đề xuất mở rộng thêm quyền lợi ốm đau, thai sản để nâng cao sức hút của chính sách.

Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu của luận văn được xác định như thế nào? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên trên cỡ mẫu 150 người lao động (chia đều 75 người đang tham gia và 75 người chưa tham gia) cùng 15 cán bộ quản lý tại 3 cụm địa bàn đại diện. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho cơ cấu dân số 277.539 người của thành phố Việt Trì.

Những nguyên nhân chủ yếu khiến người lao động tự do tại địa phương chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì? Khảo sát thực địa chỉ ra 3 nguyên nhân cốt lõi: thu nhập bấp bênh dưới 3 triệu đồng/tháng khiến 52% lao động gặp khó khăn tài chính, 64,7% người dân chưa được tiếp cận thông tin chính sách đầy đủ, và chính sách thiếu các chế độ ngắn hạn khiến 70% người tham gia hiện tại chỉ là người đóng nối tiếp.

Thành phố Việt Trì có thể học tập bài học kinh nghiệm nào từ các địa phương đi đầu như Hải Dương và Cao Bằng? Việt Trì cần nhân rộng mô hình của Hải Dương trong việc mở rộng mạng lưới 1.014 đại lý thu gắn với hội đoàn thể, đồng thời áp dụng giải pháp của huyện Thạch An - Cao Bằng trong việc giao chỉ tiêu phát triển người tham gia đến từng cán bộ nhằm hiện thực hóa mục tiêu 3.900 người tham gia.

Kết luận

• Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Việt Trì tăng 31,9% trong giai đoạn 2016 - 2018, đạt 2.880 người nhưng vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn 4,11% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội toàn thành phố. • Cơ cấu đối tượng chưa bền vững khi 70% là người bảo lưu đóng tiếp từ bảo hiểm bắt buộc, trong khi diện bao phủ trong nhóm lao động tự do và nông dân còn nhiều dư địa phát triển. • Nhận thức của người dân và mức thu nhập bình quân là hai yếu tố có tác động chi phối mạnh mẽ nhất tới 89,3% nhu cầu tham gia an sinh xã hội tại địa bàn nghiên cứu. • Mạng lưới đại lý thu cơ sở đóng vai trò then chốt nhưng cần được mở rộng từ 45 lên trên 100 điểm và chuẩn hóa kỹ năng tư vấn trực tiếp cho người dân. • Giải pháp đồng bộ về hỗ trợ tài chính bổ sung từ ngân sách địa phương và số hóa thủ tục dưới 48 giờ là chìa khóa để hoàn thành mục tiêu 3.900 người tham gia năm 2019.

Luận văn đã đóng góp hệ thống cứ liệu khoa học thực chứng và khung giải pháp toàn diện về quản lý kinh tế an sinh xã hội cấp đô thị. Kế hoạch hành động cần được phân kỳ theo 2 giai đoạn: 2019 - 2021 củng cố mạng lưới đại lý và truyền thông sâu rộng; 2022 - 2025 ứng dụng số hóa toàn diện và kiến nghị hoàn thiện chính sách. Các cấp chính quyền và cơ quan bảo hiểm xã hội cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các khuyến nghị nhằm đảm bảo an sinh bền vững cho mọi người lao động.