Giải pháp phát triển hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả và an toàn tài chính.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

Năm 2010

107
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, từ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1. Tổng quan về BHTG và vai trò của BHTG trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới

1.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của BHTG

1.1.2. Một số khái niệm liên quan đến hoạt động BHTG

1.1.3. Mục đích, vai trò và nhiệm vụ của hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới

1.1.3.1. Mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới
1.1.3.2. Vai trò và nhiệm vụ của hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới

1.2. Tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi

1.2.1. Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.2. Mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.3. Căn cứ pháp lý và cơ quan quản lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.4. Nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.5. Các nghiệp vụ chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.5.1. Nghiệp vụ thu phí bảo hiểm tiền gửi
1.2.5.2. Nghiệp vụ kiểm tra, giám sát tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
1.2.5.3. Nghiệp vụ hỗ trợ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
1.2.5.4. Nghiệp vụ chi trả tiền bảo hiểm tiền gửi và giám sát thanh lý tài sản sau khi chi trả tiền bảo hiểm

1.3. Hoạt động bảo hiểm ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm

1.3.1. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở một số quốc gia

1.3.1.1. Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ
1.3.1.2. Bảo hiểm tiền gửi ở Ấn độ
1.3.1.3. Bảo hiểm tiền gửi ở Đức

1.3.2. Một số kinh nghiệm về hoạt động BHTG đối với VN

1.3.2.1. Lựa chọn mô hình tổ chức
1.3.2.2. Xác định mô hình hoạt động
1.3.2.3. Căn cứ pháp lý và cơ quan quản lý của tổ chức BHTG
1.3.2.4. Năng lực tài chính của tổ chức BHTG cần được đảm bảo
1.3.2.5. Các hoạt động nghiệp vụ chính của tổ chức BHTG

1.4. Kết luận Chương I

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIV QUA 10 NĂM HOẠT ĐỘNG (2000 – 2009)

2.1. Giới thiệu sơ lược về DIV

2.1.1. Sự ra đời DIV và cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTG của DIV

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của DIV

2.1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của DIV

2.2. Thực trạng hoạt động DIV trong 10 năm qua (2000 – 2009)

2.2.1. Nguồn vốn hoạt động

2.2.2. Tình hình hoạt động nghiệp vụ

2.2.2.1. Cấp giấy chứng nhận và thu phí bảo hiểm tiền gửi
2.2.2.2. Hoạt động kiểm tra tại chỗ của DIV
2.2.2.3. Hoạt động giám sát từ xa của DIV
2.2.2.4. Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính
2.2.2.5. Nghiệp vụ chi trả tiền bảo hiểm và tham gia thanh lý tổ chức nhận tiền gửi giải thể, phá sản
2.2.2.6. Các hoạt động khác

2.3. Đánh giá kết quả hoạt động của DIV trong 10 năm qua (2000 – 2009)

2.3.1. Kết quả đạt được của DIV qua 10 hoạt động (2000 – 2009)

2.3.2. Những hạn chế và tồn tại trong hoạt động của DIV

2.4. Kết luận Chương II

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA DIV

3.1. Chiến lược phát triển DIV giai đoạn 2010 – 2015

3.1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội giai đoạn hiện nay

3.1.2. Chiến lược phát triển DIV giai đoạn 2010 – 2015

3.1.2.1. Sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển DIV giai đoạn 2010 – 2015
3.2. Chiến lược phát triển DIV giai đoạn 2010 – 2015

3.3. Giải pháp đối với Quốc hội, Chính Phủ nhằm phát triển hoạt động DIV

3.3.1. Bổ sung nguồn vốn hoạt động cho DIV

3.3.2. Nhanh chóng ban hành “Luật về BHTG”

3.3.3. Xem xét việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa DIV với các thành viên Mạng an toàn tài chính quốc gia

3.3.4. Tạo điều kiện cho DIV phát triển thuận lợi theo mô hình giảm thiểu rủi ro

3.3.5. Chỉnh sửa cơ cấu bộ máy tổ chức DIV

3.3.6. Thiết kế lại cơ quan quản lý Nhà nước về BHTG

3.4. Giải pháp đối với NHNN

3.4.1. Tích cực phối hợp DIV và các ban ngành có liên quan xây dựng và hoàn hiện “Luật BHTG”

3.4.2. Thực hiện sự thay đổi trong “Luật phá sản” chuyên dành cho các tổ chức tín dụng

3.4.3. Hợp tác, chia sẻ thông tin với DIV

3.4.4. Phối hợp và giúp đỡ DIV trong hoạt động khác

3.5. Một số kiến nghị đối với tổ chức tham gia BHTG

3.5.1. Chấp hành nghiêm túc những quy định tính và nộp phí BHTG

3.5.2. Chấp hành nghiêm túc việc niêm yết Giấy chứng nhận BHTG đúng quy định

3.5.3. Hợp tác với DIV khi DIV tiến hành công tác kiểm tra tại chổ các tổ chức tham gia BHTG

3.5.4. Chấp hành nghiêm túc việc gửi báo cáo theo yêu cầu của DIV

3.6. Giải pháp đối với DIV

3.6.1. Tăng cường năng lực tài chính của DIV

3.6.2. Tham mưu cho NHNN xây dựng và hoàn thiện “Luật về BHTG”

3.6.3. Tăng cường hiệu quả các hoạt động nghiệp vụ của DIV

3.6.3.1. Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi và thu phí BHTG
3.6.3.2. Giám sát từ xa các tổ chức tham gia BHTG
3.6.3.3. Hoạt động kiểm tra tại chổ
3.6.3.4. Nghiệp vụ hỗ trợ đối với các tổ chức tham gia BHTG
3.6.3.5. Chi trả tiền bảo hiểm và tiếp nhận, xử lý các tổ chức tham gia BHTG phá sản, giải thể

3.6.4. Tích cực thực hiện công tác thông tin tuyên truyền

3.6.5. Phát triển nguồn nhân lực của DIV

3.7. Kết luận Chương III

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

1. Phụ lục 1: Cơ cấu bộ máy tổ chức DIV trước khi tái cấu trúc bộ máy năm 2006.

2. Phụ lục 2: Cơ cấu bộ máy tổ chức DIV sau khi tái cấu trúc bộ máy năm 2006.

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp phát triển bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là một trong những công cụ quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, việc phát triển BHTG tại Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Giải pháp phát triển BHTG không chỉ giúp tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng mà còn góp phần ổn định thị trường tài chính.

1.1. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế

BHTG đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tạo ra một môi trường an toàn cho hoạt động ngân hàng. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro cho người gửi tiền mà còn góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

BHTG tại Việt Nam đã được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 21. Qua các giai đoạn phát triển, BHTG đã có những bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng.

II. Những thách thức trong phát triển bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Mặc dù BHTG đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như thiếu nguồn vốn, sự chưa đồng bộ trong chính sách pháp lý và sự cạnh tranh khốc liệt từ các tổ chức tài chính khác đang đặt ra nhiều khó khăn cho BHTG.

2.1. Thiếu nguồn vốn hoạt động cho bảo hiểm tiền gửi

Nguồn vốn hoạt động của BHTG hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền. Việc bổ sung nguồn vốn là một trong những giải pháp cần thiết để đảm bảo hoạt động hiệu quả của BHTG.

2.2. Khó khăn trong việc xây dựng chính sách pháp lý

Chính sách pháp lý liên quan đến BHTG còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ và thiếu tính khả thi. Cần có sự điều chỉnh và hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của BHTG.

III. Giải pháp phát triển bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiệu quả

Để phát triển BHTG một cách bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc tăng cường nguồn vốn mà còn cần cải thiện chính sách pháp lý và nâng cao năng lực quản lý.

3.1. Tăng cường nguồn vốn cho bảo hiểm tiền gửi

Cần có các biện pháp huy động nguồn vốn từ các tổ chức tài chính và ngân hàng để đảm bảo khả năng chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền. Việc này sẽ giúp tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

3.2. Hoàn thiện chính sách pháp lý về bảo hiểm tiền gửi

Cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến BHTG để tạo ra một khung pháp lý vững chắc, giúp BHTG hoạt động hiệu quả hơn.

3.3. Nâng cao năng lực quản lý và giám sát

Cần tăng cường năng lực quản lý và giám sát của các cơ quan chức năng đối với hoạt động BHTG, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc chi trả bảo hiểm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn về BHTG đã chỉ ra rằng việc phát triển BHTG không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền mà còn góp phần ổn định hệ thống tài chính. Những kết quả này cần được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng rộng rãi.

4.1. Kết quả đạt được từ hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động BHTG đã giúp bảo vệ quyền lợi của hàng triệu người gửi tiền, đồng thời tạo ra một môi trường an toàn cho hoạt động ngân hàng.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Việc học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống BHTG phát triển sẽ giúp Việt Nam rút ra những bài học quý giá trong việc hoàn thiện và phát triển BHTG.

V. Kết luận và tương lai của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

BHTG là một phần không thể thiếu trong hệ thống tài chính của Việt Nam. Việc phát triển BHTG không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền mà còn góp phần ổn định nền kinh tế. Tương lai của BHTG phụ thuộc vào những giải pháp đồng bộ và hiệu quả trong việc cải thiện chính sách và nâng cao năng lực hoạt động.

5.1. Tương lai của bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, BHTG cần phải được phát triển mạnh mẽ hơn nữa để đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

5.2. Định hướng phát triển bảo hiểm tiền gửi trong thời gian tới

Cần có những định hướng rõ ràng và cụ thể để phát triển BHTG, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong hoạt động.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp phát triển hoạt động của bảo hiểm tiền gửi việt nam luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của BHTG Khái niệm bảo vệ tiền gửi được nhiều quốc gia biết đến từ rất lâu. Tuy vậy, đất nước đầu tiên thành lập ra tổ chức bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là Mỹ. Năm 1829 tại New York một chương trình BHTG được đưa ra với danh hiệu “chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”.

Chương trình này bảo hiểm cho các loại tiền gửi nói chung và các loại chứng chỉ huy động tiền gửi đảm bảo. Năm 1866 tổ chức này ngưng hoạt động do cuộc nội chiến Mỹ. Từ năm 1907 đến 1917 một quỹ BHTG được thành lập và chấm dứt hoạt động vào năm 1930.1 Biểu đồ số lượng ngân hàng đổ vỡ từ 1924 – 1933 4500 4000 4000 3500 3000 2500 2293 2000 1350 1453 1500 975 1000 775 617 669 659 498 500 0 1924 1925 1926 1927 1928 1929 1930 1931 1932 1933 Nguồn: Bảo hiểm tiền gửi - nguyên lý, thực tiễn và định hướng, Nhà xuất bản lao động – xã hội, năm 2004, TS. Nguyễn Thị Kim Oanh.

Sau thế chiến thứ I, kinh tế Mỹ rơi vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Hàng loạt ngân hàng bị đổ vỡ hàng năm. Trong giai đoạn 1930 – 1933 mỗi năm có hơn 1000 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ngân hàng ngừng hoạt động, đỉnh cao là năm 1933 có 4000 ngân hàng thương mại phải đóng cửa. Niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng ngày càng sụt giảm, việc nắm giữ tiền mặt trong dân chúng tăng lên một cách nhanh chóng.

Trước tình hình đó Tổng thống Roosevelt đã ký Luật ngân hàng năm 1933, có hiệu lực từ ngày 16/6/1933. Tại điều 8 của Luật này quy định về việc thiết lập Công ty BHTG liên bang thông qua việc sửa đổi Luật dự trữ liên bang. Ngày 01 tháng 01 năm 1934 Hiệp hội BHTG liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Cooperation - viết tắt là FDIC) đã được thành lập và được đa số công chúng ủng hộ. Sau sự ra đời và hoạt động hiệu quả của FDIC đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt tổ chức BHTG trên thế giới .2 Tiến độ hình thành hệ thống BHTG trên thế giới từ sau khi FDIC ra đời đến 12/2009 1960 ‐ 1970 1970 ‐ 1980 1980 ‐ 1990 1990 ‐ 2000 2000 ‐ 2009 106 36 18 6 10 Nguồn: http://www.aspx và Bảo hiểm tiền gửi - nguyên lý, thực tiễn và định hướng, Nhà xuất bản lao động – xã hội, năm 2004, TS.

Nguyễn Thị Kim Oanh. Năm 2002 Hiệp hội BHTG thế giới (International Association of Deposit Insurers - IADI) được thành lập. Mục đích hoạt động của IADI là đảm bảo sự phát triển và hoạt động có hiệu quả của các tổ chức BHTG. Tính đến 01/2010 có trên thế giới có 106 tổ chức BHTG, trong đó 95 tổ chức BHTG được kết nạp chính thức vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Bên cạnh đó, 19 quốc gia khác đang nghiên cứu triển khai thành lập tổ chức BHTG. Một số khái niệm liên quan đến hoạt động BHTG Khái niệm về BHTG BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm bao gồm phần gốc và lãi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG gửi bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Tổ chức BHTG Tổ chức BHTG là tổ chức tài chính được thành lập nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng, thực hiện chi trả tiền bảo hiểm tới người có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. Tổ chức tham gia BHTG Tổ chức tham gia BHTG là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi.

Các tổ chức này khi tham gia BHTG có trách nhiệm đóng phí BHTG cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động. Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm Người gửi tiền thuộc đối tượng được BHTG là khách hàng có gửi tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Những người này không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán một phần hoặc toàn bộ tiền gửi tuỳ thuộc vào quy định hạn mức chi trả tiền BHTG của tổ chức BHTG. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Loại tiền gửi được bảo hiểm Tùy theo mục tiêu của CP và của NHTW, chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia mà CP của quốc gia đó qui định cho tổ chức BHTG bảo hiểm cho những loại tiền nào.

Các quốc gia có tổ chức BHTG thường bảo hiểm cho loại tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi cá nhân bằng đồng bản tệ, nhằm bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ đồng tiền của quốc gia mình và chống ngoại tệ hóa. Phí BHTG Phí BHTG là số tiền mà tổ chức BHTG thu của các tổ chức tham gia BHTG căn cứ vào số dư tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm nhân với tỷ lệ thu phí quy định tùy thuộc mỗi quốc gia. Hạn mức chi trả BHTG. Hạn mức chi trả BHTG là mức quy định tối đa số tiền mà tổ chức BHTG sẽ chi trả cho đối tượng được BHTG khi tổ chức tham gia BHTG đó phá sản và mất khả năng thanh toán.

Ngân hàng cầu nối Ngân hàng cầu nối là một ngân hàng được thành lập bằng 100% vốn của tổ chức BHTG với mục đích đảm nhận, hỗ trợ và duy trì tạm thời việc kinh doanh của tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ bị đặt dưới Lệnh quản lý trong khi chưa tìm được một tổ chức tài chính đồng ý đảm nhận công việc kinh doanh của tổ chức đó. Mạng an toàn tài chính Trong những bài nghiên cứu gần đây (Sebastian Schich – 2008, Srdjian T Marinkovic 2004), mạng an toàn tài chính được khái quát gồm 4 yếu tố: chức năng cho vay cuối cùng, BHTG, khung giám sát và các quy định quản lý về an toàn và cơ chế giải quyết đổ vỡ các TCTD. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 * Mối quan hệ của tổ chức BHTG và các cơ quan chức năng khác trong mạng an toàn tài chính Mối quan hệ giữa tổ chức BHTG và cơ chế xử lý đổ vỡ Tương ứng với các yếu tố của mạng an toàn tài chính, có các tổ chức tham gia đảm nhận các chức năng. Bên cạnh NHTW đảm nhận chức năng người cho vay cuối cùng, Bộ Tài chính tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào mạng an toàn tài chính thông qua việc cung cấp tài chính cho NHTW, tổ chức BHTG.

Và cuối cùng là tổ chức BHTG thực hiện BHTG và giải quyết đổ vỡ của các tổ chức tài chính - ngân hàng. Mối quan hệ giữa tổ chức BHTG và chức năng người cho vay cuối cùng: NHTW là tổ chức thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho những ngân hàng thiếu thanh khoản tạm thời nhưng có khả năng tồn tại. Các khoản vay này được áp dụng lãi suất cao như lãi suất phạt và có thế chấp. Tổ chức BHTG chỉ thực hiện hỗ trợ tài chính, chi trả, giải quyết đổ vỡ khi ngân hàng mất khả năng trả nợ và đổ vỡ.

Mối quan hệ giữa tổ chức BHTG với các cơ quan giám sát và cơ quan ban hành các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trách nhiệm của tổ chức BHTG với các cơ quan giám sát, cơ quan ban hành các quy định về an toàn và giải quyết những ngân hàng gặp khó khăn thực sự về tài chính tùy thuộc vào mô hình hoạt động BHTG của mỗi quốc gia. Ngân hàng Thanh toán quốc tế Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlement – BIS) là tổ chức quốc tế của các NHTW, thậm chí có thể nói nó là NHTW của các NHTW trên thế giới. BIS có vai trò thúc đẩy sự hợp tác giữa các NHTW và các cơ quan khác để ổn định tiền tệ và tài chính.

BIS cũng cung ứng các dịch vụ ngân hàng, nhưng chỉ cho NHTW, hoặc các tổ chức quốc tế tương tự nó. BIS được thành lập năm 1930 theo Hiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ước Hague và có trụ sở chính tại Basel, Thụy Sĩ. BIS có hai mục tiêu cụ thể: quy định về tỷ lệ vốn tự có và minh bạch về tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Hiệp ước Basel, Basel I và Basel II và Ủy Ban Basel Hiệp ước Basel (hay Basle) là hiệp ước về quản lý ngân hàng, bao gồm các đề xuất về luật qui định quản chế ngân hàng.

Basel I và Basel II do Uỷ ban Quản Basel (BCBS) ban hành. * BCBS được thành lập năm 1975 gồm sự tham gia của các NHTW: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Hoa Kỳ. BCBS không có thẩm quyền thực thi các đề xuất của mình. Các đề xuất của BCBS này được thực thi một cách gián tiếp thông qua luật pháp và qui định quản lý của từng quốc gia.

Hiệp ước Basel phần lớn được áp dụng tại Châu Âu, nhưng nó còn được nhiều nước khác trên thế giới sử dụng với vai trò như một chuẩn mực quốc tế cho ngành tài chính - ngân hàng. Vấn đề trọng tâm trong Hiệp ước Basel liên quan đến mức độ an toàn vốn - nhằm đảm bảo rằng các định chế tài chính luôn duy trì một số vốn cần thiết (vốn cấp I và vốn cấp II). Basel I được ban hành năm 1988, đưa ra những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động ngân hàng, ví dụ như về rủi ro tín dụng. Hiệp ước này sau đó được cập nhật lại năm 1996, bao quát thêm cả rủi ro thị trường và được làm rõ cũng như mở rộng thêm ở một số khía cạnh khác.

Basel II được công bố lần đầu vào tháng 6/2004 với nội dung là sự phát triển của Basel I, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 1996.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ