phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được kết cấu thành ba chương: CHƯƠNG l: Nêu khái quát định nghĩa về VXH, nguồn nhân lực chất lượng. cao, các lý thuyết làm tiền để áp dụng trong đề tài, vai trò của VXH trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. CHƯƠNG 2: Nêu nên thực trạng sử dụng VXH để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại Thành phố Hải Phòng và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng VXH đề phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao CHƯƠNG 3: Đưa ra một số giải pháp phát huy VXH trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA KHOA HQC CUA VON XÃ HỘI TRONG VIEC PHAT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC CHAT LUQNG CAO 1. Khái quát về vốn xã hội và nguồn nhân lực chất lượng cao 1.
Khái niệm vốn xã hội Thuật ngữ VXH lần đầu tiên được đề cập vào năm 1916 bởi Lyda Judson Hanifan. Đến nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về nguồn VXH được công bố tạp chí KH hoặc ấn bản phát hành bởi các nhà xuất bản nỗi tiếng, tuy nhiên một số công trình lớn, có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực thì có thể kể đến: “Các. hình thức của vốn — Form of Capital” (Pierre Bourdieu1986), *VXH trong việc tạo. dựng vốn con người — Social Capital in the Creation of Human Capital” (James S.
Coleman 1988), Chơi Bowling một mình: Sự suy sụp và sự phục hưng của cộng đồng Mỹ - Bowling alone: The collapse and Revival of American Community” (Putnam 2000). Theo Hanifan, VXH ám chỉ thiện chí, tình thân hữu, sự thông cảm và tương tác xã hội giữa các cá nhân và gia đình. Mặc dù không nói rõ nhưng. theo Hanifan VXH được “tích lũy” khi cá nhân “đầu tư” vào mối liên hệ nhằm “sử dụng” trong tương lai.
Đây cũng là đặc điểm của “vốn” mà các nhà lý thuyết về “tư bản” đều thống nhất, đó là: (¡) có thê tích lũy; (ii) có thê sử dụng để tạo ra của cải trong tương lai Bourdieu đồng quan điểm với Hanifan cho rằng việc sở hữu mạng lưới bền vững của các mối quan hệ quen biết, được thể chế hóa hình thành lên VXH Bourdieu cũng phát triển thêm khái niệm VXH của Hanifan khi cho rằng, tất cả mạng lưới quen biết đều góp phần tạo ra VXH. Tuy nhiên, mạng lưới quen biết thông qua liên hệ, tiếp xúc với xóm giềng hay mạng lưới khi tham gia hội nhóm của. những người có cùng mối quan tâm sẽ giúp tích lũy VXH theo định nghĩa của Hanifan và Bourdieu thì chưa đủ. Coleman đã bồ sung rằng, mối quan hệ trong đó con người làm việc tự nguyện với nhau chính là VXH, mà tiền đề cho hành động.
này là chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội được hiểu là các quan điểm hướng đến hành vi được hầu hết các cá nhân/nhóm trong xã hội cùng chia sẻ, được củng có bởi biện pháp và chế tài. Chuan mực này có thê là những giáo lý tôn giáo, triết lý, hay các tiêu chuẩn về nghề nghiệp, quy tắc ứng xử (Fukuyama, 1995). Tắt cả các đặc điểm này đều dựa trên một nền tảng là lòng tin.
Lòng tin hình thành và được lan truyền thông qua tôn giáo, văn hóa, truyền thống hay thói quen. Tuy nhiên, Dasgupta (2005) cho ring van dé là xã hội không thể chỉ dựa vào chuẩn mực xã hội. Tiềm ẩn nhiều nguy cơ trục lợi từ việc xây dựng lòng tin và hành động hợp tác khi chỉ dựa trên chuẩn mực. Do đó mặc dù “chuẩn mực xã hội” được ví như “trái tim của VXH” nhưng bên cạnh “chuẩn mực xã hội” thì đồng thời “hệ thống pháp lý” chính là yếu tố quyết định hình thành “môi trường xã hội” đề các bên thực thi cam kết của mình.
Chính vì vậy, để đảm bảo rằng các bên liên quan đều sẽ giữ đúng cam. kết thì xã hội cần có hệ thống pháp lý hay “cơ sở hạ tầng cho sự hợp tác”. Đó đồng thời cũng là lý do Putnam (1995) đề cập đến cả hai phương diện: lòng tin vào thể chế và hệ thống pháp lý khi nêu nên định nghĩa và các thang đo lường VXH 'VXH cho phép một nhóm người làm việc cùng nhau một cách hiệu quả để đạt được mục đích hoặc mục tiêu chung. Nó cho phép một xã hội hoặc tổ chức, chẳng hạn như một công ty hoặc một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động cùng nhau.
như một tổng thể thông qua sự tin tưởng và chia sẻ bản sắc, chuẩn mực, giá trị và mối quan hệ lẫn nhau. Nói một cách đơn giản, VXH mang lại lợi ích cho toàn xã hội thông qua các mối quan hệ xã hội. Như vậy, nghiên cứu về cách thức hoạt động. của VXH hoặc không hoạt động tràn ngập các ngành KH xã hội.
Mặc dù thuật ngữ VXH có thể đã được đưa vào sử dụng gần đây hơn, bản thân khái niệm - rằng các mối quan hệ xã hội có thể có kết quả sản xuất cho một cá nhân hoặc một nhóm - đã được khám phá trong một thời gian khá dài. được sử dụng để mô tả trách nhiệm công dân và xã hội hoặc cách các thành viên của một cộng đồng làm việc cùng nhau đề sống hài hòa và đồng lòng. Khi được sử dụng trong bối cảnh này, định nghĩa này hoàn toàn mang tính xã hội mà không có ý. nghĩa tài chính.
Ưu điểm của vốn xã Tan dung VXH lam ting luồng thông tỉn, cơ hội cho các cá nhân trong mạng. lưới qua các kết nối xã hội, mở ra cánh cửa và truyền bá ý tưởng. Câu nói nồi tiếng, “it's not what you know, it's who you know", là một biểu hiện mô hình của VXH Các nhà xã hội học và các nhà KH xã hội khác đã ghi nhận những mặt tích cực mà VXH có thể mang lại. Ví dụ, người ta thấy rằng nhiều người đã tìm được việc làm của họ thông qua mối quan hệ xung quanh, trái ngược với những cách thông thường.
Bowling alone, 2000) [8] Các cá nhân có quyển truy cập vào mức VXH cao hơn cũng báo cáo hạnh phúc hơn, sức khỏe tốt hơn và tăng mức độ tin tưởng vào cộng đồng do kết quả của các mối quan hệ tích cực xung quanh họ., 1973)[6] Trong các tổ chức, chẳng hạn như DN, VXH cao cũng thúc đẩy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác - do đó, có thẻ dẫn đến tăng năng suất và lợi nhuận. Nhược điểm của vốn xã hị Nhiều người tin rằng sự thành công của một tổ chức — cho dù đó là toàn xã hội hay một nhóm cụ thể ~ phụ thuộc vào mức độ VXH có sẵn. Đây là lý do tại sao 'VXH luôn được liên kết với sự thay đổi tích cực. Nhưng điều đó không phải lúc nào.
Mặc dù có những lợi thế khác biệt, VXH có thể bị lợi dụng và sử dụng. cho mục đích thao túng hoặc phá hoại. Các nhóm bắt chính, chẳng hạn như băng đảng xã hội đen và băng đảng ma túy, thường sử dụng VXH để tăng cường liên kết trong nhóm và tuyển dụng thành viên mới. Tương tự, một nhóm các giám đốc điều hành công ty có thẻ thông đồng.
để thao túng giá thị trường để loại bỏ sự cạnh tranh. Sự xuất hiện của các loại nhóm. này có thể làm giảm VXH tổng thể của một khu vực hoặc thành phố. Người dân và DN địa phương phải chịu đựng, và các doanh nghiệp có xu hướng dần dần né tránh các khu vực này.
Ngay cả khi được sử dụng cho mục đích sản xuất, những người bị thiệt thời và những người trong các nhóm thiêu số có thê không có cùng nguồn VXH như những người khác trong xã hội, điều này có thê khiến họ gặp bất lợi. Những người như vậy có thể bị cô lập và không có cơ hội phát triển vì họ thiếu VXH và sự liên kết với các mạng lưới xã hội để được giới thiệu với những người quyền lực hoặc tìm hiểu về những cơ hội tốt trong công việc và cuộc sống. Phân loại vốn xã hội a) VXH gắn kết (Bonding) 'VXH gắn kết (Bonding) là VXH được tạo ra trong quá trình tương tác giữa những người trong cùng một nhóm và vòng kết nói xã hội, mô tả các kết nói trong. một nhóm hoặc cộng đồng được đặc trưng bởi mức độ tương đồng cao về đặc điểm.
nhân khâu học, thái độ, thông tin và tài nguyên sẵn có. VXH gắn kết tồn tại nhóm. những người có mối quan hệ chặt chẽ mạnh mẽ, ví dụ bao gồm các thành viên gia đình, bạn bè thân thiết và hàng xóm. Gittell và Vidal (1998) mô tả sự liên kết này giống như "các mạng lưới đồng, theo đó chúng có nghĩa là các tương tác diễn ra trong các nhóm người có chung giá trị và lịch sử.
'Ví dụ về liên kết để tăng VXH gắn kết bao gồm tham dự một buồi dã ngoại gia đình, hoặc đội bóng rổ trường trung học gặp nhau trong một bữa tiệc nướng. Trong những trường hợp như vậy, bạn đã biết tắt cả những người trong nhóm và có. một số mối quan hệ xã hội đã được thiết lập sẵn từ trước. Mục tiêu của những tình huống này là làm sâu sắc, khăng khít thêm mối quan hệ hơn là mở rộng chúng.
Tình bạn thường được coi là VXH gắn kết, ở chỗ chúng thường được hình thành giữa những người có chung đặc điểm hoặc sở thích. Bạn bè là những người mà chúng ta tìm đến khi chúng ta gặp khủng hoảng và là người mà chúng ta cảm thấy gần gũi 'Với các mối quan hệ sâu sắc hơn, bạn có thê tận dụng hiệu quả hơn các mối quan hệ xã hội và nhờ họ thay mặt bạn ủng hộ khi bạn cần. * Lợi ích của VXH gắn kết 'VXH gắn kết thường là những liên kết mạnh (thời gian dành cho mối quan hệ nhiều, cường độ cảm xúc cao với sự trao đổi sự hải lòng thường xuyên), vì vậy nó đem đến cho những người trong mạng lưới lòng tin mạnh mẽ, sự quan tâm, sự gắn kết gia đình, bạn bè từ đó có thê thực hiện một chức năng xã hội hữu ích như cung cấp nguồn hỗ trợ quan trọng cho những người gặp khó khăn về kinh tế xã hội hoặc sức khỏe. VXH gắn kết có xu hướng giúp mọi người 'vượt qua' các khó khăn và cung cấp các chuẩn mực và niềm tin tạo điều kiện cho hợp tác.
10 Nghiên cứu của Edin và Lein (Edin K, Lein L. Making ends meet, 1997) [4] phát hiện ra rằng các bà me nghẻo sống trong các dự án phát triển nhà ở công cộng. sống dựa vào tiền được giúp đỡ từ gia đình và bạn bè.