CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN LOẠI, ÁP MÃ CHÍNH XÁC VÀ THỐNG NHẤT HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÂN LOẠI, ÁP MÃ CHÍNH XÁC VÀ THỐNG NHẤT HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Tổng quan về phân loại, ỏp mó hàng hóa xuất nhập khẩu 1.1 Hàng hóa xuất nhập khẩu Ngoại thương với chức năng lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài, là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là một phần trong hoạt động ngoại thương.
Mục tiêu của hoạt động XNK hàng hóa là phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng trong nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Luật Hải quan Pháp năm 1889 nêu rõ: “Hàng hóa XNK bao gồm tất cả các vật, đồ vật, vật phẩm, sản phẩm được mua hoặc được bán qua biên giới, là đối tượng kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan…”. Theo quy định của Phỏp thỡ hàng hóa XNK bao gồm tất cả hàng hóa vật chất, động sản và hàng hóa là sản phẩm khác được trao đổi, mua bán qua biên giới. Luật Hải quan Pháp sửa đổi, bổ xung năm 1988 cú thờm một số quy định về quản lý hải quan đối với hàng hóa dịch vụ XNK như việc mua bán quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng.
Các loại hàng hóa này được quản lý theo quy định riêng. Luật Hải quan Châu Âu ban hành theo sắc lệnh số 2913/1992 ngày 12/10/1992 của Hội đồng Châu Âu, tại Phần II liên quan đến việc xác định trị giá hàng hóa để tính thuế hải quan cũng quy định rõ “trị giá tính thuế hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá người mua hàng phải trả và sẽ trả cho người bán hàng”. Theo quy định này thì hàng hóa XNK, bao gồm cả hàng hóa hữu hình (hàng hóa vật chất cụ thể) và hàng hóa vô hình (như các chương trình phần mềm về sơ đồ thiết kế, bản vẽ kỹ thuật) khi được trao đổi, 21 mua bán qua biên giới cũng là đối tượng phải tính thuế và thuộc sự quản lý của cơ quan hải quan. Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (gọi tắt là Hiệp định trị giá GATT 1994) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng quy định rõ: “Trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là trị giá giao dịch”.
Theo quy định này thì trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là số tiền mà người mua phải trả hoặc sẽ phải trả cho người bán. Số tiền phải trả hoặc sẽ trả, tùy theo trường hợp, có thể bao gồm tất cả khoản tiền liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng. Như vậy khái niệm hàng hóa XNK theo WCO bao gồm cả hàng hóa động sản và hàng hóa dịch vụ, hàng hóa sức lao động. Luật Hải quan Trung Quốc năm 1987 và Luật Sửa đổi năm 2000, cũng quy định rõ tại Điều 2 như sau:“.
Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. tiến hành giám sát, quản lý đối với phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hàng hóa, hành lý, bưu phẩm, bưu kiện và các sản phẩm, vật phẩm khác XNK qua biên giới. Theo quy định của trong Luật Hải quan Trung Quốc thì tất cả các loại hàng hóa XNK (hàng hóa vật chất, động sản, hàng hóa dịch vụ, hàng hóa là phần mềm, bằng sáng chế, phát minh, quyền sở hữu trí tuệ…) khi được trao đổi mua bán qua biên giới đều là đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan Trung Quốc. Luật Hải quan Việt Nam năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ xung năm 2005 đưa ra khái niệm về hàng hóa XNK tại Điều 4, khoản 2 như sau:“ Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh bao gồm tất cả động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu…hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của hải quan”.
Như vậy, theo Luật Hải quan Việt Nam hiện hành, thì hàng hóa XNK chịu sự quản lý nhà nước về hải quan chỉ bao gồm tất cả hàng hóa là động sản (vật, đồ vật, vật phẩm, sản phẩm) có tên gọi và mã số cụ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam, được xuất khẩu, nhập khẩu, còn đối với các loại hàng hóa dịch vụ, hàng hóa sức lao động XNK không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hải quan Việt Nam. Các loại hàng 22 hóa dịch vụ, sức lao động XNK hiện nay thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quản lý chuyên ngành như Bộ Luật Lao động, Luật Khoa học Công nghệ, Luật Hàng không, Luật Xuất bản. Từ các khái niệm, quy định của quốc tế và quốc gia về hàng hóa XNK như trên, tác giả luận án cho rằng nội hàm thuật ngữ hàng hóa XNK có thể khái quát như sau: Hàng hóa XNK bao gồm hàng hóa hữu hình (như : vật, đồ vật, vật phẩm, sản phẩm cụ thể) và hàng hóa vô hình (như bằng phát minh, sáng chế, phần mềm, hoạt động dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng.) được mua bán, trao đổi qua biên giới quốc gia (biên giới cứng) và lãnh thổ hải quan (biên giới mềm), hàng hóa đó có tên gọi và mã số theo quy định của pháp luật quốc gia và thoả ước quốc tế. Trong khuôn khổ của một Luận án tiến sỹ, Nghiên cứu sinh giới hạn nội dung nghiên cứu đối với việc phân loại, ỏp mó hàng hóa xuất nhập khẩu là động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc tế về Hệ thống Hài hòa Mô tả và Mã hóa hàng hóa (International Convention on the Hamonized Commodity Description and Coding System), gọi tắt là Công ước HS mà Việt Nam đã ký và tham gia.
Nội dung Công ước HS được giới thiệu tại Phụ lục 1 của Luận án. Phân loại, ỏp mó hàng hóa xuất nhập khẩu Hàng hóa XNK là đối tượng quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức như: Cơ quan thương mại quản lý về chính sách hàng hóa XNK; cơ quan hải quan quản lý hàng hóa qua biên giới và thu thuế hàng hóa XNK; các cơ quan, tổ chức như: bảo hiểm, kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, các tổ chức chuyên chở, vận tải hàng hóa, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới. Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và chức năng quản lý mỡnh, cỏc cơ quan, tổ chức thực hiện việc phân loại hàng hóa XNK theo mục đích và yêu cầu riêng. Điều này dẫn đến việc cùng một mặt hàng tham gia thương mại quốc tế, có khi được nhắc đến hàng chục lần, mặt khác, do mặt hàng được mô tả bằng các ngôn ngữ khác nhau, cho nên, trong quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các nước, đôi khi cùng một mặt hàng XNK cỏc bờn lại có cách hiểu khác nhau, điều này gây khó khăn hơn cho thương mại quốc tế.
Hệ thống phân loại 23 hàng hóa XNK đầu tiên được hình thành, ban đầu, việc phân loại hàng hóa XNK chỉ đơn giản gồm một danh sách hàng hóa được xếp theo thứ tự ABC, dựa vào đú cỏc bên tham gia thương mại xác định mặt hàng XNK ứng với các mức thuế, phí cụ thể. dần dần, cùng với sự xuất hiện của kỹ thuật tự động chuyển dữ liệu bằng ký hiệu số, người ta đã sử dụng các con số (số hóa) để phân loại các mặt hàng XNK khác nhau. Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã xây dựng một công ước riêng - Công ước Quốc tế về Hệ thống Hài hòa Mô tả và Mã hóa hàng hóa (gọi tắt là Công ước HS) quy định các nguyên tắc về phân loại, ỏp mó hàng hóa XNK nhằm giúp cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến hàng hóa XNK xác định chính xác và thống nhất tên hàng hóa và mã số của hàng hóa. Theo quy định của Công ước HS, phân loại, ỏp mó hàng hóa XNK được hiểu là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hàng hóa XNK, căn cứ tên mô tả, tên thương mại, thành phần, cấu tạo, tính năng, tác dụng, mức độ gia công, chế biến của hàng hóa và trên cơ sở các nguyên tắc đã được quy định trong Công ước HS, để sắp xếp hàng hóa vào một chương, nhóm, phân nhóm nhất định tương ứng với mã số (số hóa) cụ thể của mặt hàng có trong Danh mục HS.
Trên quy mô toàn cầu, Công ước HS là Công ước duy nhất hiện nay có nội dung chuyên về các vấn đề liên quan đến phân loại, ỏp mó hàng hóa xuất nhập khẩu. Công ước HS gồm có 20 điều và Phụ lục kèm theo Công ước. Phụ lục của Công ước HS được biết đến với tên gọi Danh mục HS – đó là bản danh mục gồm những nhóm hàng và phân nhóm hàng cựng cỏc mã số của nhóm hàng và phân nhóm hàng tương ứng và những chú giải của phần, chương, phân nhóm và sáu quy tắc tổng quát chung giải thích, hướng dẫn phân loại, ỏp mó trong danh mục. Điều 2 của Công ước HS quy định rõ mọi đề cập liên quan đến Công ước HS cũng đồng thời đề cập liên quan đến Danh mục HS.
Như vậy, nói đến phân loại, ỏp mó hàng hóa XNK, theo WCO là nói đến phân loại, ỏp mó hàng hóa theo Danh mục HS. Theo quy định trong Công ước HS của WCO, hoạt động phân loại, ỏp mó hàng hóa XNK bao gồm hai việc chủ yếu là: Một là phân loại hàng hóa 24 với nội dung công việc là xác định tên hàng, nhóm hàng, phân nhóm hàng theo Danh mục HS trên cơ sở các quy định của Công ước HS và Hai là áp mã số hàng hóa (hay còn gọi số hóa mặt hàng) với nội dung yêu cầu là xác định mã số hàng hóa ở cấp độ nhóm (4 chữ số) và cấp độ phân nhóm (6 chữ số) theo Danh mục HS. Theo quy định của Hải quan các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu (EU), khi phân loại, ỏp mó hàng hóa XNK, ngoài việc tuân thủ các quy định nêu trong Công ước HS, các tổ chức, cá nhân có liên quan khi phân loại hàng hóa còn phải tuân thủ đỳng cỏc quy định bổ xung, quy định riêng của Cộng đồng và của nước thành viên Cộng đồng.