CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY 1. Công nghiệp hỗ trợ. Công nghiệp hỗ trợ (Supporting industries) là một khái niệm khá mới ở Đông Á, xuất hiện cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á (ASEAN) mà chủ yếu là hoạt động lắp ráp (Assembly plants) giữa những năm 80 của thế kỷ trước và chỉ chính thức được sử dụng một cách rộng rãi ở Đông Á vào những năm 1990. “Công nghiệp hỗ trợ” trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyou” trong đó “Suso-no” nghĩa là “chân núi” và “San-gyou” nghĩa là “đỉnh núi”.
Như vậy có thể hiểu rằng người Nhật quan niệm nếu quy trình sản xuất là một ngọn núi thì ngành công nghiệp hỗ trợ là chân núi còn đỉnh núi là ngành công nghiệp lắp ráp. Chân núi là toàn bộ những ngành sử dụng kỹ thuật gia công (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì.) gia công các loại vật liệu kim loại, gỗ, cao su, các loại vật liệu tổng hợp nhằm chế tạo ra các loại linh kiện, phụ tùng cho lắp ráp.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp Nguồn: http://www.vn/Home/ Quan hệ giữa ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành lắp ráp có thể được mô tả như hình trên. Cùng một phần chân núi (sản xuất linh kiện, phụ tùng) nếu muốn sản 5 xuất sản phẩm gì chỉ cần thay đổi phần đỉnh núi (công nghiệp lắp ráp). Như vậy có thể thấy công nghiệp hỗ trợ bao trùm rất nhiều ngành khác nhau từ sản xuất xe máy, ô tô, dệt may tới các ngành điện tử, cơ khí khác.
Ý thức được vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ, một số quốc gia đã xây dựng khung lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ từ khá sớm. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên đã đưa ra được một khái niệm chính thức về công nghiệp hỗ trợ: “ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và các sản phẩm đầu vào khác…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử)” (Japan Overseas Enterprises Association, 1994, Study on supporting industries, Tokyo). Khái niệm này được Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản MITI (sau đổi tên thành METI vào năm 2001) giới thiệu tới các quốc gia châu Á trong khuôn khổ của kế hoạch phát triển Châu Á mới (New AID Plan) vào năm 1993. Thái lan cũng đưa ra định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ: “các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp” (Ratana E., 1999, The role of small and medium supporting industries in Japan and Thailand, IDE APEC, working paper series 98199, Tokyo), do đó nó không bao gồm các ngành sản xuất nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, nguyên vật liệu thô.
Định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ của nước Mỹ, một quốc gia có nền công nghiệp phát triển bậc nhất thế giới lại được nhìn nhận dưới góc độ rộng hơn rất nhiều: “là những ngành cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường” (US Department of Energy, 2005, Supporting Industries: Industries of the future, fiscal year 2004 annual Report, Washington, D. Qua cách định nghĩa này có thể thấy nước Mỹ đã nhìn nhận ngành CNHT rất rộng, không chỉ là việc sản xuất linh kiện, phụ tùng như các quốc gia Đông Á mà còn bao gồm cả các hoạt động kho bãi, hậu cần, phân phối và bảo hiểm. Đây là một cách định nghĩa khá hiện đại so với các quốc gia khác.2: Sơ đồ mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ. Nguồn: VDF, 2007, Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, NXB Lao động xã hội, trang 38.
Ở Việt Nam, khái niệm về CNHT được quan tâm tới tương đối muộn. Trước năm 1986 trong thời kì kế hoạch hóa tập trung, chúng ta chú ý tới phát triển công nghiệp nặng theo mô hình tích hợp chiều dọc. Tất cả các bộ phận của một sản phẩm hoàn chỉnh được doanh nghiệp tự sản xuất và hoàn thiện cho tới khâu cuối cùng. Do đó ngành CNHT không được nhìn nhận đúng đắn như một ngành riêng phục vụ nhu cầu của tất cả các ngành lắp ráp khác.
Cho tới khi khái niệm CNHT được phổ biến rộng rãi tới các quốc gia châu Á vào đầu thập kỉ 90 thì Việt Nam vẫn chưa mấy chú ý tới hay đúng hơn là chưa đủ điều kiện do thời kì đó chúng ta còn bận quan tâm tới những vấn đề cấp bách khác sau đổi mới như cải cách kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Khi nền kinh tế dần đi vào quỹ đạo phát triển, Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì khi đó sự yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ đã thực sự được lộ rõ. Một trong những khó khăn lớn nhất khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi đầu tư vào Việt Nam đó là sự thiếu hụt các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào hay chính là việc ở Việt Nam thời điểm đó hầu như chưa có doanh nghiệp CNHT nào đủ khả năng cung cấp linh kiện và phụ tùng. 7 Nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam, Chính phủ nước ta đã cùng kí với Chính phủ Nhật Bản bản “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003-2005) trong đó hạng mục đầu tiên được nhắc tới trong số 44 hạng mục của chiến lược xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc phát triển, thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT.
Ngày 31/07/2007, Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã ban hành quyết định số 34/2007/QĐ - BCN phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” nhưng lại không đưa ra định nghĩa về CNHT mà chỉ nêu ra các ngành cần phát triển CNHT bao gồm dệt may, da giày, điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí và chế tạo. Ngày 24/02/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 12/2011/QĐ-TTg “về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ” trong đó có giải thích thuật ngữ về ngành CNHT “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Như vậy là phải rất lâu sau các nước trên thế giới, Việt Nam mới đưa ra được khái niệm về ngành CNHT của riêng mình. Khái niệm này khá giống với định nghĩa của các nước Đông Á và Thái Lan khi chỉ xác định CNHT là ngành sản xuất linh kiện và phụ tùng cho các ngành lắp ráp.
Việc đưa ra định nghĩa này rất phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước ta khi mà các doanh nghiệp FDI đều chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực gia công, lắp ráp và tỉ lệ nội địa hóa rất thấp. Đây là một bước đi cần thiết của chính phủ nhằm nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm cũng như đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Trong văn bản này cũng đề cập tới khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” chứ không sử dụng thuật ngữ “công nghiệp phụ trơ” như thường được dùng ở nước ta trước đây nhằm tránh quan điểm hiểu nhầm rằng đây là ngành “phụ”, không quan trọng. Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Các sản phẩm CNHT thường được sản xuất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). 8 Các doanh nghiệp SMEs có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp lắp ráp nói riêng và sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung. Các công ty này đều có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp, trình độ công nghệ ở mức vừa phải thích hợp sản xuất các sản phẩm đơn giản cho các công ty lớn thực hiện việc lắp ráp hoàn thiện sản phẩm. Một số đặc điểm của SMEs phù hợp với sản xuất các sản phẩm CNHT: - Quy mô nhỏ nên dễ dàng trong việc thay đổi công nghệ sản xuất, có thể kết hợp nhiều phương pháp sản xuất, sản xuất trong những điều kiện thiếu thốn.
- Nhạy cảm với những biến động của thị trường, có khả năng nhanh chóng thay đổi chủng loại mặt hàng. - Có khả năng thâm nhập vào những thị trường ngách. Đây là những thị trường có dung lượng thị trường nhỏ, nhiều biến động về cung cầu, thị hiếu nên không thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên đây lại là thị trường tiềm năng cho các SMEs với năng lực sản xuất thấp, dễ dàng gia nhập và rút lui khỏi thị trường để tham gia vào các thị trường khác khi có biến động.
CNHT có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Công nghiệp hỗ trợ phát triển mới thu hút được FDI, đặc biệt là trong các ngành sản xuất máy móc. Hiện nay nguồn nhân công giá rẻ là lợi thế lớn nhất của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên tỷ trọng chi phí nhân công chiếm rất ít trong toàn bộ chi phí sản xuất công nghiệp.
Một phần lớn chi phí sản xuất của các ngành công nghiệp nằm trong chi phí cho các loại máy móc nguyên phụ liệu. Do đó nếu ngành CNHT kém phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Tuy nhiên cũng có trường hợp FDI có rồi mới giúp cho ngành CNHT phát triển. Trong cả hai trường hợp này đều thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa FDI và CNHT.
Mối quan hệ này có thể được thể hiện như sau (Nguyễn Công Liêm & Nguyễn Mạnh Hà, 2007, “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội, số 19): - Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, thị trường nội địa đã có một số doanh nghiệp cung cấp sản phẩm CNHT cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước. Khi có FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước sẽ được tham gia vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp FDI. Thông qua quá trình hợp tác kinh doanh giữa các doanh 9 nghiệp, các công nghệ mới sẽ được các doanh nghiệp FDI chuyển giao cho doanh nghiệp CNHT trong nước. Tuy nhiên để có được sự chuyển giao về công nghệ từ các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước cần phải tỏ ra có khả năng cạnh tranh về sản phẩm nguyên phụ liệu với hàng nhập khẩu.