Luận Văn Tốt Nghiệp: Phát Triển Công Nghiệp Hỗ Trợ Cho Ngành Dệt May Việt Nam Đến Năm 2020

Khám phá luận văn tốt nghiệp về phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020, phân tích tiềm năng và thách thức.

Trường đại học

Đại học Ngoại Thương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2012

86
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY

1.1. Công nghiệp hỗ trợ

1.2. Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ

1.4. Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may

1.5. Các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may

1.6. Vai trò của CNHT đối với sự phát triển ngành dệt may nói riêng và kinh tế xã hội Việt Nam nói chung

1.7. Nâng cao giá trị và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp dệt may

1.8. Khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu máy móc, nguyên liệu góp phần cân đối cán cân xuất nhập khẩu

1.9. Phát huy “sức mạnh lan tỏa” cho hệ thống công nghiệp Việt Nam

1.10. Tạo thêm nhiều việc làm góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và ổn định xã hội

1.11. Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp dệt may

1.12. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam

1.12.1. Quy mô thị trường

1.12.2. Tiến bộ khoa học kỹ thuật

1.12.3. Nguồn lực tài chính

1.12.4. Cơ chế chính sách của Chính phủ có liên quan

1.13. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số quốc gia trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam

2.2. Lịch sử hình thành

2.3. Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam

2.4. Thực trạng phát triển một số ngành CNHT dệt may

2.4.1. Ngành sản xuất nguyên liệu

2.4.2. Ngành sản xuất xơ, sợi tổng hợp

2.4.3. Ngành cơ khí dệt may

2.4.4. Ngành công nghiệp hóa chất

2.4.5. Ngành sản xuất phụ liệu may

2.5. Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam

2.5.1. Những kết quả đạt được

2.5.2. Những tồn tại, hạn chế

2.5.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

3.1. Cơ sở hình thành các giải pháp

3.2. Cơ hội, thách thức đối với ngành CNHT dệt may Việt Nam

3.3. Định hướng phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2020 của Chính Phủ

3.4. Định hướng phát triển CNHT dệt may đến năm 2020

3.5. Giải pháp phát triển CNHT dệt may đến năm 2020

3.5.1. Nhóm giải pháp đối với Chính Phủ

3.5.2. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp

3.5.3. Nhóm các giải pháp khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam

Phát triển công nghiệp hỗ trợ là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam. Đến năm 2020, mục tiêu của Việt Nam là nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may thông qua việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ như sản xuất nguyên liệu, cơ khí, và hóa chất. Công nghiệp hỗ trợ không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu mà còn tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm dệt may. Việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ tạo ra chuỗi giá trị khép kín, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu.

1.1. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị và tính chủ động cho các doanh nghiệp dệt may. Nó giúp khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu máy móc và nguyên liệu, góp phần cân đối cán cân xuất nhập khẩu. Đồng thời, công nghiệp hỗ trợ còn tạo ra nhiều việc làm, góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện cho ngành dệt may hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng

Sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ dệt may chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như quy mô thị trường, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nguồn lực tài chính, và cơ chế chính sách của Chính phủ. Quy mô thị trường lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Nguồn lực tài chính đủ mạnh sẽ hỗ trợ đầu tư vào công nghệ và máy móc hiện đại. Các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ.

II. Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam

Ngành dệt may Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong những năm gần đây, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, ngành này vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu và máy móc. Công nghiệp hỗ trợ dệt may ở Việt Nam còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành dệt may. Điều này dẫn đến chi phí sản xuất cao và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thị trường quốc tế.

2.1. Thực trạng ngành dệt may

Ngành dệt may Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước. Tuy nhiên, ngành này vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu, xơ sợi, và máy móc từ nước ngoài. Sự thiếu hụt nguồn cung trong nước đã làm tăng chi phí sản xuất và giảm giá trị gia tăng của sản phẩm. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến ngành dệt may Việt Nam chưa thể phát huy hết tiềm năng của mình.

2.2. Thực trạng công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ dệt may ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành dệt may. Các ngành công nghiệp hỗ trợ như sản xuất nguyên liệu, cơ khí, và hóa chất vẫn còn yếu kém, chưa phát triển tương xứng với ngành dệt may. Sự thiếu hụt nguồn cung trong nước đã khiến các doanh nghiệp dệt may phải nhập khẩu nguyên liệu và máy móc với chi phí cao. Điều này làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế.

III. Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may đến năm 2020

Để phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may đến năm 2020, Việt Nam cần tập trung vào việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, và tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm dệt may. Các giải pháp bao gồm việc cải thiện cơ chế chính sách, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, và nâng cao trình độ công nghệ. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước và quốc tế để tạo ra chuỗi giá trị khép kín, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu.

3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ

Chính phủ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ dệt may. Các chính sách này bao gồm việc cung cấp vốn đầu tư, hỗ trợ công nghệ, và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị dệt may. Đồng thời, Chính phủ cần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ.

3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh bằng cách đầu tư vào công nghệ hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước để tạo ra chuỗi giá trị khép kín, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu. Việc phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao cũng là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY 1. Công nghiệp hỗ trợ. Công nghiệp hỗ trợ (Supporting industries) là một khái niệm khá mới ở Đông Á, xuất hiện cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á (ASEAN) mà chủ yếu là hoạt động lắp ráp (Assembly plants) giữa những năm 80 của thế kỷ trước và chỉ chính thức được sử dụng một cách rộng rãi ở Đông Á vào những năm 1990. “Công nghiệp hỗ trợ” trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyou” trong đó “Suso-no” nghĩa là “chân núi” và “San-gyou” nghĩa là “đỉnh núi”.

Như vậy có thể hiểu rằng người Nhật quan niệm nếu quy trình sản xuất là một ngọn núi thì ngành công nghiệp hỗ trợ là chân núi còn đỉnh núi là ngành công nghiệp lắp ráp. Chân núi là toàn bộ những ngành sử dụng kỹ thuật gia công (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì.) gia công các loại vật liệu kim loại, gỗ, cao su, các loại vật liệu tổng hợp nhằm chế tạo ra các loại linh kiện, phụ tùng cho lắp ráp.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp Nguồn: http://www.vn/Home/ Quan hệ giữa ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành lắp ráp có thể được mô tả như hình trên. Cùng một phần chân núi (sản xuất linh kiện, phụ tùng) nếu muốn sản 5 xuất sản phẩm gì chỉ cần thay đổi phần đỉnh núi (công nghiệp lắp ráp). Như vậy có thể thấy công nghiệp hỗ trợ bao trùm rất nhiều ngành khác nhau từ sản xuất xe máy, ô tô, dệt may tới các ngành điện tử, cơ khí khác.

Ý thức được vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ, một số quốc gia đã xây dựng khung lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ từ khá sớm. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên đã đưa ra được một khái niệm chính thức về công nghiệp hỗ trợ: “ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và các sản phẩm đầu vào khác…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử)” (Japan Overseas Enterprises Association, 1994, Study on supporting industries, Tokyo). Khái niệm này được Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản MITI (sau đổi tên thành METI vào năm 2001) giới thiệu tới các quốc gia châu Á trong khuôn khổ của kế hoạch phát triển Châu Á mới (New AID Plan) vào năm 1993. Thái lan cũng đưa ra định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ: “các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp” (Ratana E., 1999, The role of small and medium supporting industries in Japan and Thailand, IDE APEC, working paper series 98199, Tokyo), do đó nó không bao gồm các ngành sản xuất nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, nguyên vật liệu thô.

Định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ của nước Mỹ, một quốc gia có nền công nghiệp phát triển bậc nhất thế giới lại được nhìn nhận dưới góc độ rộng hơn rất nhiều: “là những ngành cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường” (US Department of Energy, 2005, Supporting Industries: Industries of the future, fiscal year 2004 annual Report, Washington, D. Qua cách định nghĩa này có thể thấy nước Mỹ đã nhìn nhận ngành CNHT rất rộng, không chỉ là việc sản xuất linh kiện, phụ tùng như các quốc gia Đông Á mà còn bao gồm cả các hoạt động kho bãi, hậu cần, phân phối và bảo hiểm. Đây là một cách định nghĩa khá hiện đại so với các quốc gia khác.2: Sơ đồ mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ. Nguồn: VDF, 2007, Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, NXB Lao động xã hội, trang 38.

Ở Việt Nam, khái niệm về CNHT được quan tâm tới tương đối muộn. Trước năm 1986 trong thời kì kế hoạch hóa tập trung, chúng ta chú ý tới phát triển công nghiệp nặng theo mô hình tích hợp chiều dọc. Tất cả các bộ phận của một sản phẩm hoàn chỉnh được doanh nghiệp tự sản xuất và hoàn thiện cho tới khâu cuối cùng. Do đó ngành CNHT không được nhìn nhận đúng đắn như một ngành riêng phục vụ nhu cầu của tất cả các ngành lắp ráp khác.

Cho tới khi khái niệm CNHT được phổ biến rộng rãi tới các quốc gia châu Á vào đầu thập kỉ 90 thì Việt Nam vẫn chưa mấy chú ý tới hay đúng hơn là chưa đủ điều kiện do thời kì đó chúng ta còn bận quan tâm tới những vấn đề cấp bách khác sau đổi mới như cải cách kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Khi nền kinh tế dần đi vào quỹ đạo phát triển, Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì khi đó sự yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ đã thực sự được lộ rõ. Một trong những khó khăn lớn nhất khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi đầu tư vào Việt Nam đó là sự thiếu hụt các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào hay chính là việc ở Việt Nam thời điểm đó hầu như chưa có doanh nghiệp CNHT nào đủ khả năng cung cấp linh kiện và phụ tùng. 7 Nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam, Chính phủ nước ta đã cùng kí với Chính phủ Nhật Bản bản “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003-2005) trong đó hạng mục đầu tiên được nhắc tới trong số 44 hạng mục của chiến lược xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc phát triển, thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT.

Ngày 31/07/2007, Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã ban hành quyết định số 34/2007/QĐ - BCN phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” nhưng lại không đưa ra định nghĩa về CNHT mà chỉ nêu ra các ngành cần phát triển CNHT bao gồm dệt may, da giày, điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí và chế tạo. Ngày 24/02/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 12/2011/QĐ-TTg “về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ” trong đó có giải thích thuật ngữ về ngành CNHT “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Như vậy là phải rất lâu sau các nước trên thế giới, Việt Nam mới đưa ra được khái niệm về ngành CNHT của riêng mình. Khái niệm này khá giống với định nghĩa của các nước Đông Á và Thái Lan khi chỉ xác định CNHT là ngành sản xuất linh kiện và phụ tùng cho các ngành lắp ráp.

Việc đưa ra định nghĩa này rất phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước ta khi mà các doanh nghiệp FDI đều chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực gia công, lắp ráp và tỉ lệ nội địa hóa rất thấp. Đây là một bước đi cần thiết của chính phủ nhằm nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm cũng như đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Trong văn bản này cũng đề cập tới khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” chứ không sử dụng thuật ngữ “công nghiệp phụ trơ” như thường được dùng ở nước ta trước đây nhằm tránh quan điểm hiểu nhầm rằng đây là ngành “phụ”, không quan trọng. Đặc trưng của ngành công nghiệp hỗ trợ.

Các sản phẩm CNHT thường được sản xuất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). 8 Các doanh nghiệp SMEs có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp lắp ráp nói riêng và sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung. Các công ty này đều có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp, trình độ công nghệ ở mức vừa phải thích hợp sản xuất các sản phẩm đơn giản cho các công ty lớn thực hiện việc lắp ráp hoàn thiện sản phẩm. Một số đặc điểm của SMEs phù hợp với sản xuất các sản phẩm CNHT: - Quy mô nhỏ nên dễ dàng trong việc thay đổi công nghệ sản xuất, có thể kết hợp nhiều phương pháp sản xuất, sản xuất trong những điều kiện thiếu thốn.

- Nhạy cảm với những biến động của thị trường, có khả năng nhanh chóng thay đổi chủng loại mặt hàng. - Có khả năng thâm nhập vào những thị trường ngách. Đây là những thị trường có dung lượng thị trường nhỏ, nhiều biến động về cung cầu, thị hiếu nên không thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên đây lại là thị trường tiềm năng cho các SMEs với năng lực sản xuất thấp, dễ dàng gia nhập và rút lui khỏi thị trường để tham gia vào các thị trường khác khi có biến động.

CNHT có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Công nghiệp hỗ trợ phát triển mới thu hút được FDI, đặc biệt là trong các ngành sản xuất máy móc. Hiện nay nguồn nhân công giá rẻ là lợi thế lớn nhất của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên tỷ trọng chi phí nhân công chiếm rất ít trong toàn bộ chi phí sản xuất công nghiệp.

Một phần lớn chi phí sản xuất của các ngành công nghiệp nằm trong chi phí cho các loại máy móc nguyên phụ liệu. Do đó nếu ngành CNHT kém phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Tuy nhiên cũng có trường hợp FDI có rồi mới giúp cho ngành CNHT phát triển. Trong cả hai trường hợp này đều thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa FDI và CNHT.

Mối quan hệ này có thể được thể hiện như sau (Nguyễn Công Liêm & Nguyễn Mạnh Hà, 2007, “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội, số 19): - Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, thị trường nội địa đã có một số doanh nghiệp cung cấp sản phẩm CNHT cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước. Khi có FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước sẽ được tham gia vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp FDI. Thông qua quá trình hợp tác kinh doanh giữa các doanh 9 nghiệp, các công nghệ mới sẽ được các doanh nghiệp FDI chuyển giao cho doanh nghiệp CNHT trong nước. Tuy nhiên để có được sự chuyển giao về công nghệ từ các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước cần phải tỏ ra có khả năng cạnh tranh về sản phẩm nguyên phụ liệu với hàng nhập khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Công Nghiệp Hỗ Trợ Ngành Dệt May Việt Nam Đến Năm 2020" tập trung vào chiến lược phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cho lĩnh vực dệt may, một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Nội dung chính bao gồm các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, và thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại. Tài liệu này mang lại lợi ích thiết thực cho các nhà quản lý, doanh nghiệp, và nhà nghiên cứu quan tâm đến sự phát triển bền vững của ngành dệt may.

Để mở rộng kiến thức về các chiến lược phát triển kinh tế, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh quảng ninh đến năm 2020, hoặc Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội huyện sốp cộp tỉnh sơn la đến năm 2025. Nếu quan tâm đến mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở việt nam sẽ là tài liệu hữu ích.