Luận văn: Thực trạng và giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại Sa Pa, Lào Cai

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng tại Sa Pa, Lào Cai. Luận văn cung cấp số liệu và đề xuất thiết thực.

Trường đại học

Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng cháy rừng tại Sa Pa Lào Cai

Sa Pa, Lào Cai là một huyện miền núi với diện tích rừng lớn, nhưng tình hình cháy rừng vẫn là mối lo ngại hàng năm. Theo các số liệu từ Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, huyện Sa Pa phải đối mặt với nhiều nguy cơ cháy do các yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Điều kiện thời tiết khô hạn, đặc biệt vào mùa hè, tạo môi trường thuận lợi cho cháy rừng. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của người dân địa phương, như đốt nương rẫy, đốt rác nông nghiệp, cũng là nguyên nhân chính gây cháy rừng tại địa bàn này. Việc hiểu rõ thực trạng là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp phòng cháy hiệu quả.

1.1. Đặc điểm vật liệu cháy và điều kiện tự nhiên

Rừng tại Sa Pa chủ yếu là rừng tự nhiên với mật độ cao, vật liệu cháy phong phú. Lớp thảm thực vật dày, lá rụng phủ kín mặt đất, tạo điều kiện lý tưởng cho cháy. Địa hình núi cao, độ dốc lớn làm cho cháy rừng dễ lan nhanh. Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động 15-20°C, nhưng mùa hạn hạn khô kéo dài, độ ẩm thấp tăng nguy cơ cháy đáng kể.

1.2. Nguyên nhân chính gây cháy rừng

Nguyên nhân cháy rừng tại Sa Pa đa dạng, chủ yếu từ con người với tỷ lệ 90% các vụ cháy. Đốt nương rẫy ngoài kiểm soát, đốt rác nông nghiệp, sơ suất sử dụng lửa là những nguyên nhân phổ biến. Ngoài ra, cháy rừng do sét đánh cũng xảy ra nhưng ít hơn. Thiếu ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận cộng đồng địa phương cũng góp phần vào tình hình này.

II. Hiện trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng

Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tại Sa Pa đã được triển khai với sự tham gia của các cấp chính quyền, lực lượng chuyên môn và cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực. Bộ máy tổ chức từ cấp huyện đến cấp xã đã được thiết lập, nhưng hiệu quả còn chưa cao do thiếu kinh phí, trang thiết bị chữa cháy rừng hiện đại. Các biện pháp phòng cháy rừng chủ yếu dựa vào công tác tuyên truyền, canh gác và tuần tra. Kết quả thực hiện nhiệm vụ PCCCR chưa đáp ứng yêu cầu.

2.1. Bộ máy tổ chức và cấp bậc quản lý

Huyện Sa Pa đã thành lập Ban chỉ đạo PCCCR từ cấp huyện đến các xã. Tuy nhiên, nhân lực, đặc biệt các cán bộ chuyên trách, chưa đủ so với nhiệm vụ. Lực lượng canh gác rừng và tuần tra còn thiếu đào tạo chuyên sâu. Chính vì vậy, các giải pháp phòng cháy rừng cần tập trung nâng cao năng lực, đào tạo cán bộ, nhân viên.

2.2. Trang thiết bị và cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất cho công tác PCCCR tại Sa Pa còn hạn chế, các trạm canh gác rừng chưa được xây dựng đầy đủ. Trang thiết bị chữa cháy rừng như máy bơm cứu hỏa, dụng cụ cắt cây còn thiếu. Thiếu hệ thống đường phòng cháy rừng, điểm nước cứu hỏa. Đây là một trong những thách thức lớn cần khắc phục bằng các giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR.

III. Các giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại Sa Pa, cần triển khai một hệ thống các giải pháp toàn diện. Các giải pháp này bao gồm cải thiện công tác tổ chức, hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đồng thời nâng cao ý thức cộng đồng thông qua tuyên truyền, giáo dục. Cần áp dụng kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) nhằm giảm vật liệu cháy, tăng cường tuần tra, canh gác, sớm phát hiện dấu hiệu cháy. Các giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện địa phương.

3.1. Giải pháp tổ chức và quản lý

Cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức công tác PCCCR tại các cấp, từ huyện đến xã, thôn. Tuyển dụng, đào tạo nhân lực chuyên môn, nâng cao kỹ năng cho lực lượng canh gác rừng. Lập kế hoạch phòng cháy rừng chi tiết cho từng khu vực, từng mùa. Tăng cường phối hợp với các lực lượng địa phương, dân quân tự vệ. Thiết lập hệ thống báo cáo, cảnh báo cháy rừng kịp thời.

3.2. Tuyên truyền giáo dục cộng đồng

Tuyên truyền rộng rãi về nguy hại của cháy rừng đến môi trường, kinh tế, đời sống con người. Giáo dục ý thức bảo vệ rừng cho học sinh, sinh viên qua chương trình học tập. Tổ chức các diễn tập PCCCR định kỳ, huấn luyện kỹ năng chữa cháy cho cộng đồng. Xây dựng các quy định cộng đồng về phòng cháy, xử phạt hành vi gây cháy rừng.

3.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

Xây dựng hệ thống đường phòng cháy rừng kết nối các khu rừng trọng điểm. Thiết lập các trạm canh gác rừng có vị trí chiến lược cao, tầm nhìn rộng. Lắp đặt các điểm nước cứu hỏa, bể nước tại các khu rừng dễ cháy. Trang bị trang thiết bị chữa cháy rừng hiện đại như máy bơm, vòi phun, dụng cụ cắt cây chuyên dụng.

IV. Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng và xã hội hóa

Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để giảm nguy cơ cháy rừng. Phương pháp này bao gồm việc làm giảm vật liệu cháy thông qua cắt tỉa cành thấp, làm sạch lá rụng, thực bì trên mặt đất. Việc tạo các ô tiêu chuẩn (OTC) và ô dạng bản (ODB) giúp chặn sự lan rộng của lửa. Cần xã hội hóa công tác phòng cháy rừng bằng cách tuyển dụng lao động địa phương, tạo việc làm thường xuyên cho cộng đồng. Khuyến khích các hộ gia đình tham gia vào công tác bảo vệ rừng, vừa tạo thu nhập vừa nâng cao ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng.

4.1. Ứng dụng KTLSPCR trong quản lý rừng

Áp dụng kỹ thuật lâm sinh cắt tỉa, làm sạch để giảm vật liệu cháy trong các khu rừng trọng điểm. Tạo các ô tiêu chuẩn với khoảng cách an toàn, loại bỏ cây chết, cây gãy. Thực hiện canh tác rừng thưa để tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ lớp lá. Những khu vực này sẽ có khả năng chống cháy cao hơn, cháy rừng không dễ xảy ra.

4.2. Xã hội hóa nghề bảo vệ rừng

Xã hội hóa công tác PCCCR bằng cách tuyển dụng lao động địa phương làm công nhân bảo vệ rừng, canh gác, tuần tra. Cung cấp huấn luyện kỹ năng, thiết bị cần thiết cho những lao động này. Hình thành các tổ chức cộng đồng tham gia phòng cháy rừng, bảo vệ tài nguyên rừng. Đảm bảo thu nhập ổn định, tạo động lực cho cộng đồng tham gia bảo vệ rừng lâu dài.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng,. Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học. Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm t́m hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh, từ đó đề ra những giải pháp PCCCR phù hợp. Tuy nhiên, với sự phức tạp và khác nhau về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnh hưởng của các nhân tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương.

Vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trong điều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có hiệu quả nhất. Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như sau. Tổng quan nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới công tác nghiên cưu và dự báo cháy rừng bắt đầu vào thế kỷ 20 cho đến nay đã đưa ra được nhiều phương pháp khác nhau và được áp dụng ở nhiều nơi tùy thuộc vào từng quốc gia và lãnh thổ (dt Bế Minh Châu và Cs; 2001).Show đã đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng với các yếu tố khí tượng thủy văn, để từ đó đề ra những biện pháp PCCCR.

Họ cho rằng: Độ ẩm của thảm mục nói lên mức độ khô hạn của rừng. Độ khô hạn của rừng càng cao thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn (dt Bế Minh Châu và Cs, 2001). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Ở Nga trong những năm 1929 - 1940 Nesterop đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp (các yếu tố khí tượng thủy văn và các yếu tố khác), ông đã tìm ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng xảy ra cháy rừng với các chỉ số khác như: Số ngày không mưa, nhiệt độ không khí lúc 13h, nhiệt độ điểm sương. Từ đó ông đã xây dựng lên công thức thể hiện mối quan hệ này: Trong đó: Pi: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng.

n: Số ngày không mưa kể cả ngày cuối cùng có p<5mm. ti: Nhiệt độ không khí lúc 13h. Di: Nhiệt độ điểm sương. Ở Thụy Điển và các nước thuộc bán đảo Scandinavia người ta sử dụng chỉ số Angstrom để dự báo khả năng cháy rừng.

Công thức tính như sau: I Trong đó: I: Chỉ số Angstrom để xác định khả năng cháy rừng. R: Độ ẩm không khí tương đối thấp trong ngày (%). T: Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (oC). Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản dễ tính, nhưng nhược điểm là độ chính xác không cao (dt Phạm Ngọc Hưng, 1994).

Ở Đức, Waymann qua nghiên cứu thấy độ ẩm nhỏ nhất của vật liệu cháy và nhiệt độ cao nhất trong ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ đó ông đã đưa ra mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và khả năng cháy rừng để dự báo nguy cơ cháy rừng. Phương pháp dự báo cháy rừng này đòi hỏi việc tiến hành tương đối phức tạp (dt Phạm Ngọc Hưng, 1994). Ngoài ra trên thế giới còn áp dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chỉ tiêu khả năng bén lửa của Yanmei (Trung Quốc), phương pháp hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng (Hoa Kỳ)… (dt Trần Văn Mão, 1998). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.

Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của 3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy. Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A. Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy. Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau: (1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất; (2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác; (3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn.

Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A. Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk), độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy (Wvlc) rừng qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy.

Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: sản xuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy. Phần lớn các biện pháp phòng cháy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể ở địa phương (Laslo Pancel Ed, 1993; Richmond R. Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy và khả năng xuất hiện cháy rừng. Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K, 1972).

Ở một số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979), ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa và lượng bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A. Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown A. Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001).

Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển. Bảng hiệu dự báo cấp cháy rừng xã Tả Van 1.

Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gronquist R. Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng. Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ