Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại tỉnh Hòa Bình đã tạo ra bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó Khu công nghiệp Lương Sơn với quy mô 82,9 ha tại xã Hòa Sơn đóng vai trò hạt nhân công nghiệp trọng điểm tại cửa ngõ phía Tây Thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, việc chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật đã trực tiếp tác động tới tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống lâu dài cho các hộ gia đình sau khi giao đất cho dự án.

Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Văn Thống, do TS. Bùi Thị Minh Nguyệt hướng dẫn tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2017), tập trung giải quyết bài toán sinh kế nông hộ sau thu hồi đất. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng biến động thu nhập của 92 hộ gia đình tại xã Hòa Sơn, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển kinh tế hộ bền vững. Phạm vi thời gian nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 và số liệu điều tra khảo sát thực địa trong năm 2017. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm lao động trên 35 tuổi chiếm tới 34,4% tổng số lao động khảo sát đang gặp khó khăn lớn nhất về việc làm. Luận văn đóng góp khung giải pháp toàn diện hướng tới mục tiêu phục hồi 100% mức sống của người dân bằng hoặc cao hơn trước thời điểm thu hồi đất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế hộ nông dân của các nhà khoa học tiêu biểu như Frank Ellis, Alexander Chayanov, Đào Thế Tuấn và Lê Đình Thắng. Theo các lý thuyết này, hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa thực hiện chức năng sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng, có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh linh hoạt trước các tác động của thị trường. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp khung lý thuyết phục hồi sinh kế của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á, nhấn mạnh nguyên tắc bồi thường thiệt hại và tái thiết kế sinh kế phải bảo đảm người bị ảnh hưởng có điều kiện phát triển kinh tế bền vững.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu bao gồm: kinh tế nông hộ, khu công nghiệp tập trung, thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng và an sinh xã hội nông thôn. Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013 (từ Điều 74 đến Điều 87) cùng Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (trọng tâm là Điều 19, Điều 20 và Điều 21) quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 92 hộ gia đình bị thu hồi đất tại xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được áp dụng dựa trên 3 nhóm quy mô mất đất: nhóm thu hồi dưới 30% diện tích canh tác, nhóm thu hồi từ 30% đến 70%, và nhóm thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp. Việc phân tầng mẫu giúp phản ánh chính xác và khách quan mức độ tổn thương kinh tế của từng nhóm hộ có mức độ mất tư liệu sản xuất khác nhau.

Nguồn thông tin bao gồm dữ liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm (2014 - 2016) từ Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn, Chi cục Thống kê, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình và dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2017 qua phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp chủ hộ. Các phương pháp phân tích số liệu chủ yếu gồm: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu số tuyệt đối và số tương đối, phương pháp phân tích cơ cấu thu nhập và chi tiêu. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm lượng hóa rõ nét mức độ biến động dòng tiền, sự chuyển dịch cơ cấu việc làm và khả năng tích lũy của nông hộ trước và sau khi bàn giao đất sản xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thu nhập của 92 hộ điều tra có sự chuyển dịch sâu sắc từ thuần nông sang phi nông nghiệp. Đối với nhóm hộ bị thu hồi trên 70% diện tích đất, nguồn thu từ nông nghiệp sụt giảm trên 85%, buộc người lao động phải chuyển sang làm công nhân nhà máy hoặc kinh doanh thương mại dịch vụ, giúp tổng thu nhập danh nghĩa tăng khoảng 15% đến 20% nhưng độ ổn định chưa cao. Ngược lại, nhóm hộ mất dưới 30% đất canh tác có thu nhập ít biến động nhưng gặp khó khăn do canh tác manh mún.

Thứ hai, tình trạng phân hóa việc làm theo độ tuổi diễn ra gay gắt. Trong khi lao động trẻ dưới 30 tuổi dễ dàng tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Lương Sơn với mức thu nhập từ 3.000.000 đến 6.000.000 đồng/tháng, thì nhóm lao động trên 35 tuổi (chiếm 34,4% tổng số lao động khảo sát) rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc làm việc thời vụ không ổn định do rào cản về trình độ học vấn và tác phong công nghiệp.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng tiền bồi thường đất đai còn nhiều hạn chế. Trên 60% tổng số tiền đền bù được người dân sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở, mua sắm đồ dùng tiện nghi sinh hoạt và trang trải chi tiêu gia đình. Chỉ có khoảng 15% đến 20% nguồn vốn được đưa vào tái đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc học nghề chuyển đổi sinh kế.

Thứ tư, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách sau thu hồi đất còn thấp. Dưới 30% số hộ được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để mở rộng dịch vụ thương mại do thiếu định hướng và phương án sản xuất kinh doanh khả thi.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được minh chứng rõ nét qua việc mô hình hóa dữ liệu trên biểu đồ cơ cấu thu nhập (thể hiện tỷ trọng thu nhập nông nghiệp giảm từ 65% xuống dưới 18%, trong khi tỷ trọng tiền lương, tiền công và dịch vụ tăng lên trên 55%) và bảng so sánh chuyển dịch lao động theo từng độ tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do người dân còn mang nặng tâm lý ỷ lại vào tiền bồi thường, thiếu định hướng nghề nghiệp dài hạn và các chính sách đào tạo nghề tại địa phương chưa thực sự gắn kết với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại tỉnh Vĩnh Phúc theo mô hình giao đất dịch vụ thương mại (Quyết định số 2502/2004/QĐ-UB) hay kinh nghiệm giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng, việc chỉ tập trung bồi thường bằng tiền mặt tại xã Hòa Sơn mà thiếu các giải pháp sinh kế thứ cấp đã làm gia tăng nguy cơ tái nghèo cho một bộ phận lao động lớn tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, tái cấu trúc công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm theo địa chỉ. Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn cần phối hợp với Ban Quản lý Khu công nghiệp Lương Sơn ban hành quy chế yêu cầu các doanh nghiệp thứ cấp cam kết tiếp nhận tối thiểu 40% lao động địa phương có đất bị thu hồi. Trung tâm Dạy nghề huyện triển khai các khóa đào tạo kỹ thuật công nghiệp ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng giai đoạn 2018 - 2020.

Hai là, quy hoạch quỹ đất thương mại dịch vụ quanh khu công nghiệp. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lương Sơn cùng chính quyền xã Hòa Sơn cần quy hoạch quỹ đất dịch vụ phục vụ các hộ bị thu hồi từ 30% đến 70% đất sản xuất để kinh doanh phòng trọ, cung ứng suất ăn, mở rộng dịch vụ vận tải, mang lại dòng thu nhập ổn định từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng/tháng cho mỗi hộ gia đình.

Ba là, mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi và tư vấn quản lý tài chính hộ. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Lương Sơn cần nâng mức cho vay ưu đãi lên 50.000.000 đến 100.000.000 đồng/hộ đối với các phương án khởi sự kinh doanh nhỏ, chăn nuôi công nghệ cao. Hội Nông dân xã Hòa Sơn tổ chức các buổi hướng dẫn phân bổ vốn bồi thường, hướng người dân dành ít nhất 30% tiền đền bù vào các kênh sinh lời bền vững.

Bốn là, thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ an sinh theo Nghị định 47/2014/NĐ-CP. Cơ quan quản lý nhà nước cần đảm bảo chi trả tiền hỗ trợ ổn định đời sống từ 6 đến 12 tháng đối với hộ không phải di chuyển chỗ ở và tối đa 24 tháng đối với hộ phải di chuyển nơi ở, đồng thời tổ chức rà soát định kỳ 6 tháng một lần về chỉ số phục hồi thu nhập nông hộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng từ 92 hộ dân, giúp các cơ quan này hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư sát hợp thực tiễn.

Thứ hai, các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp như Công ty Cổ phần Bất động sản An Thịnh Hòa Bình cùng các doanh nghiệp đang hoạt động trên quy mô 82,9 ha của Khu công nghiệp Lương Sơn. Luận văn là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng chiến lược trách nhiệm xã hội và tuyển dụng lao động địa phương hiệu quả.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển. Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích mẫu phân tầng và lý thuyết phục hồi sinh kế nông hộ.

Thứ tư, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và các tổ chức đoàn thể xã hội tại các địa phương có đất nông nghiệp thuộc diện quy hoạch. Tài liệu giúp các đơn vị này xây dựng chương trình tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ hội viên quản lý nguồn vốn đền bù an toàn và bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Khu công nghiệp Lương Sơn có quy mô như thế nào và ảnh hưởng ra sao đến địa phương? Khu công nghiệp Lương Sơn được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình với diện tích quy hoạch 82,9 ha tại xã Hòa Sơn. Dự án thúc đẩy tốc độ công nghiệp hóa nhưng đồng thời làm thu hẹp quỹ đất nông nghiệp, buộc 92 hộ dân trong diện khảo sát phải chuyển đổi phương thức sinh kế truyền thống.

Vì sao lao động trên 35 tuổi gặp nhiều khó khăn nhất trong việc tìm kiếm việc làm sau thu hồi đất? Nhóm lao động trên 35 tuổi chiếm 34,4% tổng số lao động khảo sát nhưng bị rào cản về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và thói quen sản xuất nông nghiệp cũ. Hầu hết các doanh nghiệp trong khu công nghiệp chỉ ưu tiên tuyển dụng lao động phổ thông dưới 30 tuổi, khiến nhóm này khó tiếp cận việc làm chính thức.

Nông hộ tại xã Hòa Sơn sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai vào những việc gì? Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng hơn 60% tổng nguồn tiền bồi thường được các hộ gia đình sử dụng để xây dựng nhà ở, mua sắm đồ dùng gia đình và chi tiêu sinh hoạt hàng ngày. Chỉ khoảng 15% đến 20% nguồn tiền được dành cho mục đích học nghề, mở cửa hàng kinh doanh hoặc tái đầu tư sản xuất.

Chính sách hiện hành quy định mức hỗ trợ ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất như thế nào? Theo Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, hộ gia đình bị thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở, 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở và tối đa 24 tháng nếu di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Giải pháp then chốt nào giúp nông hộ ổn định nguồn thu nhập sau khi mất đất nông nghiệp? Giải pháp mang tính quyết định là kết hợp đào tạo nghề gắn với cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp (đạt tỷ lệ tối thiểu 40% lao động địa phương) và quy hoạch đất phát triển thương mại dịch vụ, kết hợp nguồn vốn vay ưu đãi từ 50.000.000 đến 100.000.000 đồng/hộ để tạo việc làm tại chỗ bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện tác động kinh tế - xã hội từ việc thu hồi 82,9 ha đất xây dựng Khu công nghiệp Lương Sơn đối với 92 hộ gia đình tại xã Hòa Sơn.
  • Chỉ rõ thực trạng chuyển dịch việc làm và rào cản sinh kế của 34,4% lao động trung niên trên 35 tuổi sau khi mất tư liệu sản xuất.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về liên kết đào tạo nghề, quy hoạch đất thương mại dịch vụ, hỗ trợ tín dụng ưu đãi và an sinh xã hội.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác quản lý đất đai và hoạch định chính sách tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2025.
  • Đóng góp mô hình tham chiếu hữu ích cho quá trình phát triển khu công nghiệp gắn liền với an sinh nông hộ tại các địa phương vùng bán sơn địa trên cả nước.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng khung chính sách đồng bộ nhằm chuyển hóa tiền đền bù thành nguồn vốn sinh kế dài hạn cho nông dân. Lộ trình triển khai các giải pháp cần được chính quyền địa phương và các doanh nghiệp thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2018 - 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và người dân hãy nghiên cứu và ứng dụng ngay các phát hiện từ luận văn này để tối ưu hóa hiệu quả quản trị kinh tế nông hộ sau thu hồi đất.