Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài phát triển xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim của Hanosimex sang thị trường Mỹ trong giai đoạn hiện nay. Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu mặt hàng dệt kim Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng về phát triển xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim sang thị trường Mỹ Chương 4: Một số giải pháp phát triển xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim của Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội sang thị trường Mỹ trong giai đoạn hiện nay. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DỆT KIM 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về xuất khẩu hàng dệt kim Khái niệm xuất khẩu: - Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Xuất khẩu là hình thức kinh doanh quốc tế lâu đời và quan trọng nhất.
Nó xuất hiện từ khi hoạt động trao đổi quốc tế còn manh mún, phân tán với quy mô nhỏ. Song cho đến nay không thể tăng trưởng và phát triển kinh tế mà không đẩy mạnh xuất khẩu. - Xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim là việc bán hàng quần áo dệt kim trong nước ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân. Đây là hoạt động giao dịch, buôn bán với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn khó kiểm soát, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia.
Các quốc gia khác nhau tham gia vào hoạt động giao dịch buôn bán này phải tuân thủ theo những tập quán, thông lệ cũng như của các địa phương. Khái niệm phát triển xuất khẩu sản phẩm xuất khẩu - Phát triển xuất khẩu sản phẩm xuất khẩu được hiểu là sự gia tăng qui mô, chất lượng xuất khẩu nhanh, ổn định và liên tục gắn với việc chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu một cách hợp lý đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời đáp ứng hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.2 Các hình thức xuất khẩu mặt hàng dệt kim chủ yếu a. XK trực tiếp Là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giao dịch với khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình. Hình thức này được áp dụng khi nhà sản xuất đã đủ mạnh để tiến tới thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình và kiểm soát trực tiếp thị trường.
Tuy rủi ro kinh doanh có tăng lên song nhà sản xuất có cơ hội thu lợi nhuận nhiều hơn giảm bớt các chi phí trung gian và nắm bắt kịp thời những thông tin về biến động thị trường có biện pháp đối phó. XK gián tiếp Là việc nhà sản xuất thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu các sản phẩm của mình ra nước ngoài. Hình thức này thường được các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế áp dụng. Ưu điểm của nó là doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều cũng như không phải triển khai lực lượng bán hàng, các hoạt động xúc tiến, khuếch trương ở nước ngoài.
Hơn nữa, rủi ro cũng hạn chế vì trách nhiệm bán hàng thuộc về các tổ chức trung gian. Tuy nhiên, phương thức này liên hệ trực tiếp với nước ngoài, vì thế nên việc nắm bắt thông tin về thị trường cũng bị hạn chế, dẫn đến chậm thích ứng với các biến động thị trường. XK tại chỗ Là hình thức kinh doanh xuất khẩu đang có xu hướng phát triển và phổ biến rộng rãi bởi những ưu điểm của nó mang lại. Đặc điểm của loại hình này là hàng hóa không phải vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn có thể mua được.
Do vậy mà nhà xuất khẩu không cần đích thân ra nước ngoài đàm phán với người mua mà người mua tự tìm đến họ. Mặt khác, doanh nghiệp sẽ tránh được những rắc rối hải quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hóa… nên giảm được lượng chi phí khá lớn. Đồng thời hình thức này còn cho phép doanh nghiệp thu được vốn nhanh,lợi nhuận cao. Gia công quốc tế Là một hình thức kinh doanh, theo đó, một bên nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm (bên nhận gia công) của bên kia (bên đặt gia công) để chế biến thành thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (tiền gia công).
Đây cũng là hình thức đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các nước có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong phú. Bởi thông qua gia công, các quốc gia này sẽ có điều kiện đổi mới, cải tiến máy móc thiết bị và kỹ thuật công nghệ, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao năng lực sản xuất… 2.2 Một số lý thuyết và nguyên lý về phát triển xuất khẩu 2.2 Các lý thuyết về phát triển xuất khẩu làm cơ sở phân tích Lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của A.Smith: Nội dung: Các nước chỉ sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình sản xuất tốn ít chi phí hơn, có chất lượng các yếu tố đầu vào tốt hơn và các quốc gia sẽ nhập khẩu những loại hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng có chi phí cao hơn, có chất lượng các yếu tố đầu vào kém hơn. Do các nước có điều kiện tự nhiên không ngang nhau đã tạo ra một sự chuyên môn hóa vào ngành trồng trọt và mua hàng công nghiệp nếu có đất đai tốt, hoặc ngược lại các nước có nhiều tài nguyên khoáng sản nên phát triển công nghiệp và mua hàng nông sản ở nước khác. Sản xuất chuyên môn hóa dựa vào lợi thế tuyệt đối sẽ có lợi cho các nước.
Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của D.Ricardo: Nội dung: Các nước dù không có lợi thế tuyệt đối cũng có thể tham gia vào thương mại quốc tế nếu biết chọn mặt hàng mình có lợi thế so sánh. Do sự không đồng đều về lợi thế tuyệt đối, nếu mỗi nước biết chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn thì cả 2 nước sẽ cùng thu được lợi ích thông qua thương mại. Quy luật cung cầu: Tuân theo quy luật này hoạt động xuất khẩu hàng quần áo dệt kim chỉ được thực hiện khi thị trường nước nào đó có nhu cầu về mặt hàng này. Khi nhu cầu mặt hàng này tăng sẽ làm tăng giá và lúc đó hoạt động xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim sẽ được giá.
Ngược lại, khi xã hội có nhu cầu thấp giá sẽ giảm, lúc đó sẽ có nhiều gia đình, doanh nghiệp không còn mặn mà với việc sản xuất mặt hàng này nữa thậm chí họ sẽ chuyển sang làm những ngành nghề khác có thu nhập cao. Điều này gây ra nhiều hiện tượng xã hội như thất nghiệp, di cư hay tệ nạn xã hội… 2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu mặt hàng quần áo dệt kim 2.1 Các chỉ tiêu về số lượng a. Chỉ tiêu đánh giá sự gia tăng về qui mô Doanh thu (kim ngạch) xuất khẩu và sự tăng trưởng doanh thu(kim ngạch) xuất khẩu - Doanh thu (kim ngạch) xuất khẩu (M): là chỉ tiêu đánh giá xuất khẩu bằng tiền đối với các mặt hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm sau so với năm trước lớn chứng tỏ mức độ xuất khẩu phát triển.
Thông qua chỉ tiêu kim ngạch có thể so sánh mức độ phát triển của từng mặt hàng với nhau, cũng như thể hiện được tổng quan hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua tổng kim ngạch. M=P*Q M: doanh thu(kim ngạch) từ hoạt động xuất khẩu mặt hàng đó P: giá bán trên thị trường xuất khẩu Q: sản lượng/ khối lượng xuất khẩu - Tăng trưởng doanh thu (kim ngạch) xuất khẩu ): là chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng xuất khẩu bằng tiền đối với các mặt hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm sau so với năm trước càng lớn càng chứng tỏ hoạt động xuất khẩu phát triển. Trong đó: : là tăng trưởng doanh thu (hay kim ngạch) xuất khẩu là doanh thu (kim ngạch) xuất khẩu năm t+1 là doanh thu(kim ngạch) xuất khẩu năm t Sản lượng xuất khẩu và tăng trưởng về sản lượng xuất khẩu - Sản lượng xuất khẩu (Q): là chỉ tiêu đánh giá về số lượng các sản phẩm xuất khẩu vào thị trường.
Sản lượng xuất khẩu càng lớn càng cho thấy hoạt động xuất khẩu đã thu được kết quả tốt. Sản lượng xuất khẩu tăng theo thời gian các biện pháp xuất khẩu đã đi đúng hướng. Tuy nhiên, chỉ tieu sản lượng xuất khẩu cho thấy sự thay đổi của từng mặt hàng mà không thấy được tổng quan hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. - Tăng trưởng về sản lượng xuất khẩu( : là chỉ tiêu đánh giá sự gia tăng về sản lượng xuất khẩu năm sau so với năm trước.
= Trong đó: : là tăng trưởng về sản lượng xuất khẩu : là sản lượng xuất khẩu năm thứ t + 1 : là sản lượng xuất khẩu năm thứ t b. Chỉ tiêu đánh giá sự gia tăng về tốc độ Tốc độ tăng trưởng: chỉ tiêu này phản ánh mức độ gia tăng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc từ đó giúp chúng ta có thể đánh giá được mức độ phát triển của một nhóm hàng hoặc ngành hàng nào đó. Chỉ tiêu này có thể được tính như sau: G(%) = Trong đó: G là tốc độ tăng trưởng là sự chênh lệch giữa giá trị của năm thứ t so với năm gốc Y là giá trị của năm gốc.2 Các chỉ tiêu chất lượng a. Sự chuyển dịch về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu - Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu phản ánh tỉ trọng của nhóm hàng hoặc ngành hàng nào đó trên tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia hoặc một ngành hàng cụ thể.
Ngành hàng hoặc nhóm hàng nào có tỉ trọng cao thì kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng đó, ngành hàng đó là lớn. Chỉ tiêu này cũng phản ánh được sự chuyển dịch cơ cấu ngành hàng hoặc nhóm hàng xuất khẩu. Thông qua chỉ tiêu này chúng ta có thể dự đoán được khả năng gia tăng xuất khẩu, từ đó điều chỉnh sự chuyển dịch của một ngành hàng nào đó. Cơ cấu của các mặt hàng có thể được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của một mặt hàng đó trong tổng kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu.