Chương 1: Cơ sở lý luận về thông tin kế toán và khủng hoảng kinh tế Chương 2: Thực trạng thông tin kế toán trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008. Chương 3: Những bài học và giải pháp nâng cao vai trò thông tin kế toán. Bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam. Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1.
THÔNG TIN KẾ TOÁN (ACCOUNTING INFORMATION) 1. Khái niệm thông tin kế toán Mục đích nguyên thuỷ của kế toán là cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Đã từ lâu chúng ta nhấn mạnh, kế toán không phải là mục đích mà đúng hơn đó là một phương tiện để đạt mục đích. Sản phẩm cuối cùng của thông tin kế toán là những quyết định kinh tế hiệu quả từ việc sử dụng những thông tin kế toán đó của các đối tượng là cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, chính phủ, liên đoàn lao động hoặc những đối tượng khác có quyền lợi đối với doanh nghiệp.
Bởi vì kế toán được sử dụng rộng rãi để mô tả mọi hoạt động của doanh nghiệp nên kế toán được mô tả như là “Ngôn ngữ kinh doanh”. Chi phí, lợi nhuận, doanh thu, cổ tức…đều là những thước đo kế toán. Những nhà đầu tư, chủ nợ, ban giám đốc và những đối tượng có quyền lợi đối với doanh nghiệp cần có một sự hiểu biết rõ ràng về những khái niệm cũng như các chỉ tiêu của kế toán nếu họ là những người truyền đạt thông tin và hiểu thông tin của doanh nghiệp. Theo những quan niệm nguyên thuỷ thì thông tin kế toán được sử dụng để ra quyết định liên quan đến doanh nghiệp.
Theo thời gian, người ta càng nhấn mạnh thông tin kế toán cũng được sử dụng bởi chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận, các nhà nghiên cứu…cho nhiều mục đích khác nữa. “Thông tin kế toán là phương tiện mà chúng ta sử dụng để đo lường và truyền đạt thông tin về các hoạt động kinh tế. Cho dù chúng ta điều hành doanh nghiệp, đầu tư vốn hay tính toán số tiền lãi từ đầu tư… chúng ta đều tiếp cận với các khái niệm kế toán và thông tin kế toán.Jan R Williams, Susan F.Carcello (2008), Financial Accounting,McGrow-Hill International Edition, [14]trang 4-5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Tiêu chuẩn chất lƣợng của thông tin kế toán (Qualitative Characteristics of Accounting Information) Theo khuôn mẫu cho việc soạn thảo và trình bày Báo cáo tài chính (Conceptual Framework for Financial Accounting and reporting) thì việc soạn thảo và trình báy báo cáo tài chính liên quan đến những thông tin nào sẽ được cung cấp, ai cung cấp thông tin đó và những thông tin đó sẽ trình bày ở đâu. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữu ích cho những người sử dụng thông tin để ra quyết định.
Để trở nên hữu ích, thông tin kế toán phải thể hiện được từng tính chất trong một chừng mực tối thiểu. Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ định là ưu tiên, hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin. Theo các khái niệm về Báo cáo tài chính (Statement of financial Accounting Concepts) viết tắt là CON, Hệ thống các tính chất thông tin kế toán được CON2 trình bày tại hình sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Hệ thống các chỉ tiêu chất lƣợng của thông tin kế toán Người ra quyết định và các Người sử dụng tiêu chuẩn của họ (Ví dụ, thông tin kế toán sự hiểu biết hay sự am hiểu ) Áp lực cân đối lợi ích và Lợi ích>Chi phí chi phí Người sử dụng: Có thể hiểu được Các tiêu chuẩn cụ thể Quyết định hữu ích Các quyết định -Tiêu chuẩn cụ thể Thích hợp Đáng tin cậy Tiêu chuẩn quan trọng Kịp thời Có thể Trình bày kiểm chứng trung thực Giá trị Giá trị dự báo phản hồi Tiêu chuẩn thứ Có thể so sánh Khách quan yếu và sự tương (Bao gồm nhất quán) tác chất lượng Ngưỡng Trọng yếu nhận thức Nguồn: Wiley GAPP 2009 [16] Hữu ích cho việc ra quyết định (Usefulness for decision making): Đây là chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất của thông tin. Thông tin kế toán phải hữu ích cho người sử dụng.
Để trở thành hữu ích thì thông tin phải thích hợp (Relevant) và đáng tin cậy (Reliable) Tính thích hợp (Relevant): Thông tin là thích hợp cho việc ra quyết định nếu nó có khả năng tạo ra sự khác biệt cho những quyết định của người sử dụng thông tin trong việc dự báo kết quả. Tính thích hợp của thông tin tài chính bao gồm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hai thành tố là giá trị dự báo (Predictive value) và giá trị phản hồi (Feedback value), bởi vì không nhận thức được quá khứ thì không đủ cơ sở để dự báo, không có lợi ích trong tương lai thì nhận thức về quá khứ cũng vô dụng. Mặc dù tính kịp thời thì độc lập với tính thích hợp, tuy nhiên thông tin kịp thời thì mới thích hợp bởi nếu thông tin không sẵn có khi cần hoặc chỉ có sau khi các sự kiện đã được báo cáo rất lâu thì thông tin sẽ thiếu tính thích hợp và ít được sử dụng. Tính đáng tin cậy (Reliability): Báo cáo tài chính là một bản tóm tắt mọi hoạt động của một doanh nghiệp.
Thông tin kế toán đáng tin cậy trong phạm vi nó có thể kiểm chứng (Verifiability), trung lập (Neutrality), và được trình bày trung thực (Representational faithfulness). Thông tin không trình bày trung thực khi có sai sót hoặc thiên lệch. Trình bày trung thực là sự phù hợp giữa thông tin kế toán (bao gồm sự đánh giá và diễn đạt) với nghiệp vụ, sự kiện muốn trình bày. Tính trung lập (Neutrality): Trung lập là các thông tin báo cáo không bị thiên lệch nhằm đạt đến một kết quả định trước hay chịu ảnh hưởng của một thái độ cá biệt.
Thông tin trung lập khi báo cáo về các hoạt động kinh tế trung thực nhất trong khả năng có thể, không nhằm tô vẽ các hình ảnh thông tin để tác động đến hành vi theo một hướng đặc biệt. Có thể kiểm chứng (Verifiability): Có thể kiểm chứng là khả năng thông qua sự đồng thuận giữa những người đánh giá có đủ năng lực và độc lập để bảo đảm thông tin phù hợp với nghiệp vụ, sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá được chọn không có sai sót hoặc thiên lệch. Mục đích của yêu cầu có thể kiểm chứng là khẳng định sự trình bày trung thực của thông tin. Có thể so sánh (Comparable): Thông tin kế toán hữu ích khi nó có thể so sánh được.
Tính có thể so sánh được giúp người sử dụng thông tin có thể so sánh sự giống nhau và khác nhau của những doanh nghiệp trong một kỳ nhất định hay so sánh kết quả của một doanh nghiệp trong nhiều kỳ khác nhau. Tính nhất quán (Consistency): Tính nhất quán cũng là một đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán. Yêu cầu nhất quán đòi hỏi sự phù hợp giữa các kỳ thông qua việc không thay đổi chính sách và thủ tục kế toán Nhất quán không có nghĩa là không được áp dụng phương pháp kế toán mới hoặc tốt hơn. Khi đó, để bảo đảm khả năng so sánh được cần có những thuyết minh thích hợp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tính trọng yếu (Trade-off): “Mặc dù như đã trình bày ở trên các tiêu chuẩn chất lượng hay tính chất của thông tin kế toán, tuy nhiên không phải tất cả các tiêu chuẩn chất lượng trên đều trọng yếu như nhau. Thông thường một tiêu chuẩn chất lượng này được hình thành trên sự đánh dổi một tiêu chuẩn chất lượng khác”2. Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ định là ưu tiên; hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin. Áp lực về cân đối lợi ích - chi phí (Constraints): Việc cung cấp thông tin tài chính tiêu tốn nhiều chi phí để thu thập, xử lý, soạn thảo các báo cáo tài chính hoặc cho kiểm toán; hơn nữa còn phải xem xét các chi phí phát sinh từ phía người sử dụng như thu thập, phân tích, hay loại bỏ những thông tin thừa.
Trong khi lợi ích mang lại từ thông tin chẳng hạn như sự đáp ứng một yêu cầu pháp lý, thương mại, hay củng cố hình ảnh tài chính của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho khách hàng và giới đầu tư (đối với người soạn thảo), hoặc có thể là những kết quả phân tích, dự báo phù hợp và đáng tin cậy cho việc ra quyết định (đối với người sử dụng thông tin) vv… có thể không tương xứng với số tiền đã bỏ ra. Nói khác đi, tính hữu ích của thông tin tài chính bị giảm sút nếu chi phí vượt quá lợi ích mang lại từ việc cung cấp, sử dụng thông tin. Điều này gây ra áp lực rất lớn đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích nếu yêu cầu quá cao về lợi ích mang lại của thông tin từ phía nhà nước, người sử dụng so với khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. Nguyên tắc thận trọng (Role of conservatism): Là phản ứng thận trọng đối với các tình huống chưa rõ ràng để bảo đảm rằng tình huống chưa rõ ràng và các rủi ro tiềm tàng được xem xét một cách đầy đủ.
Rất nhiều năm qua, kế toán viên đã quen với tính thận trọng. Tính thận trọng trong kế toán có thể dẩn đến những sai lầm cho người sử dụng thông tin kế toán nếu kết quả thông tin dẩn đến sự cố ý giấu bớt tài sản và thu nhập. Sự giấu bớt này được cam kết để tối thiểu hoá những rủi ro không chắc chắn cho những người cho vay bên ngoài. Tuy nhiên sự giấu bớt đó thường dẩn đến sự thổi phồng trong những năm sau, báo cáo tài chính sẽ thiên lệch, xung đột với những tính chất như trình bày trung thực, có thể kiểm chứng, có thể so sánh và trung lập2.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò thông tin kế toán 1. Vai trò thông tin kế toán đối với doanh nghiệp Chức năng của kế toán là tạo ra thông tin về sự kiện kinh tế phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường của nó.