Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, là khâu cuối cùng của một chu kỳ sản xuất và đồng thời là điểm khởi đầu cho quá trình tái sản xuất mở rộng. Thông qua việc chuyển hóa hàng hóa thành tiền tệ, doanh nghiệp thu hồi vốn đầu tư để bù đắp các chi phí đầu vào và hiện thực hóa giá trị lợi nhuận. Tuy nhiên, đối với khối doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam thời kỳ chuyển đổi, công tác tiêu thụ sản phẩm từng tồn tại nhiều hạn chế kéo dài do ảnh hưởng từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nơi đầu vào và đầu ra đều do Nhà nước điều phối thông qua mạng lưới thương nghiệp quốc doanh. Khi bước sang cơ chế thị trường, việc Nhà nước không còn bao cấp khâu tiêu thụ buộc các đơn vị sản xuất phải chủ động thích ứng, tự xây dựng chính sách tiếp thị và kênh phân phối riêng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung, thực hiện vào tháng 06 năm 2004 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Lê Văn Tâm, tập trung giải quyết bài toán tiêu thụ sản phẩm tại một doanh nghiệp nhà nước địa phương mang tính chất đặc thù: Công ty In Hà Giang. Đây là doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh miền núi phía Bắc với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, vừa gánh vác nhiệm vụ chính trị - công ích.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Khảo sát và phân tích thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm, kết quả hoạt động tiêu thụ của Công ty In Hà Giang giai đoạn 1999 – 2003.
- Rút ra các tồn tại, nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tiêu thụ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tiêu thụ sản phẩm và các yếu tố cấu thành quản trị tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất in ấn.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế tại Công ty In Hà Giang, tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi thời gian: Phân tích các số liệu thứ cấp nội bộ về tình hình lao động, thiết bị máy móc, sản lượng in ấn và doanh thu trong giai đoạn 5 năm (1999 – 2003).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các nguyên lý quản trị kinh doanh và kinh tế học công nghiệp. Khái niệm tiêu thụ sản phẩm được xác định là quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, bao gồm hai nhóm nghiệp vụ có liên hệ mật thiết:
- Nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất: Tiếp nhận, phân loại, bao gói, lên nhãn mác, xếp kho, chuẩn bị đóng bộ và vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu khách hàng.
- Nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kế hoạch hóa: Nghiên cứu nhu cầu thị trường, xây dựng danh mục hàng hóa, quản trị lực lượng bán hàng và tổ chức dịch vụ sau bán hàng.
Khung lý thuyết của đề tài gắn kết tiêu thụ sản phẩm với 4 mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp: mục tiêu lợi nhuận ($\text{Lợi nhuận} = \text{Doanh thu} - \text{Chi phí}$), mục tiêu củng cố vị thế thị trường, mục tiêu an toàn vốn và mục tiêu đảm bảo tính liên tục của quá trình tái sản xuất (thông qua 4 khâu: Sản xuất – Phân phối – Trao đổi – Tiêu dùng). Quá trình nghiên cứu thị trường được cụ thể hóa qua 3 bước: thu thập thông tin (nguồn sơ cấp và thứ cấp), xử lý thông tin và ra quyết định. Đề tài áp dụng các công thức kinh tế cụ thể để thẩm định phương án kinh doanh:
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn:
$$P = \frac{L}{V} \times 100%$$
(trong đó $L$ là tổng lãi, $V$ là vốn bỏ ra).
- Thời gian thu hồi vốn:
$$T = \frac{V}{LN + LV + KH}$$
(trong đó $V$ là tổng vốn, $LN$ là lợi nhuận, $LV$ là lãi vay, $KH$ là mức khấu hao).
Lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm được phân chia làm 4 giai đoạn (Tung ra thị trường, Tăng trưởng, Chín muồi/bão hòa, Suy thoái), tương ứng với các chiến lược giá và khuyến mãi (thu lượm nhanh, thu lượm chậm, thâm nhập nhanh, thâm nhập chậm). Khung định giá xác định giới hạn tối thiểu của giá bán ngắn hạn là $P \ge SAVC$ (chi phí biến đổi trung bình ngắn hạn – điểm đóng cửa doanh nghiệp), cùng các phương pháp định giá: cộng lời vào chi phí, định giá theo lợi nhuận mục tiêu gắn với khối lượng hòa vốn:
$$\text{Khối lượng hòa vốn} = \frac{\text{Chi phí cố định}}{\text{Giá} - \text{Chi phí biến đổi}}$$
định giá theo giá trị nhận thức, định giá theo giá trị thực tế và định giá theo mức giá hiện hành.
Đề tài phân loại hệ thống phân phối thành 5 kênh (từ Kênh I trực tiếp đến Kênh V đa tầng qua đại lý, bán buôn và bán lẻ); phân tích 2 phương thức tiêu thụ cơ bản là bán buôn (gồm mua đứt bán đoạn, đại lý ký gửi, liên kết sản xuất) và bán lẻ trực tiếp; cùng các công cụ xúc tiến như quảng cáo, hội nghị khách hàng, hội chợ triển lãm và chính sách thanh toán linh hoạt. Phương pháp đánh giá kết quả tiêu thụ sử dụng công thức cân đối sản phẩm:
$$\text{Số lượng tiêu thụ} = \text{Tồn kho đầu kỳ} + \text{Sản xuất trong kỳ} - \text{Tồn kho cuối kỳ}$$
và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính: tỷ suất lợi nhuận trên chi phí ($LN/TC$), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ($LN/TR$) và tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn sản xuất. Đề tài khảo sát các nhân tố môi trường vĩ mô (kinh tế, chính trị - pháp luật, khoa học công nghệ, văn hóa - xã hội, tự nhiên), vi mô (khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng) và nhân tố nội bộ (giá cả, chất lượng, tổ chức bán hàng, uy tín doanh nghiệp).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (so sánh số tuyệt đối, số tương đối giữa các năm và giữa kế hoạch với thực hiện) và phương pháp hạch toán kinh tế. Nguồn số liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 1999 – 2003 của Phòng Kế toán, Phòng Kế hoạch điều độ sản xuất và Phòng Hành chính tổ chức thuộc Công ty In Hà Giang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận về tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận khoa học về tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường. Tác giả luận giải tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tác động trực tiếp tới tốc độ luân chuyển vốn và chi phối các nghiệp vụ quản trị khác.
Chương I phân tích chi tiết quy trình nghiên cứu thị trường từ khâu thu thập dữ liệu sơ cấp (qua điều tra chọn mẫu, bảng hỏi, quan sát) và dữ liệu thứ cấp đến khâu xử lý thông tin để xác định thái độ khách hàng và lựa chọn thị trường mục tiêu. Tiếp đó, tác giả phân tích sự phối hợp giữa danh mục sản phẩm với từng giai đoạn trong chu kỳ sống của hàng hóa.
Về chính sách giá, chương này hệ thống hóa các nguyên tắc định giá theo quy luật cung cầu, sự tương quan giữa giá trị và giá cả, độ co giãn của giá và xác định ngưỡng an toàn vận hành ($P \ge SAVC$). Hệ thống kênh phân phối từ kênh cấp 0 đến kênh cấp 3 được mô hình hóa kèm theo việc chỉ rõ ưu - nhược điểm của các phương thức bán buôn và bán lẻ. Các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ được phân chia rành mạch giữa quảng cáo ngoài mạng lưới thương mại (báo chí, phát thanh, truyền hình, áp phích, nhãn mác, bưu điện) và quảng cáo bên trong mạng lưới (biển hiệu, tủ kính, trưng bày tại chỗ). Cuối cùng, chương đưa ra hệ thống công thức phân tích biến động doanh thu, lợi nhuận và 4 kịch bản cân đối giữa sản xuất, tồn kho và tiêu thụ hàng hóa.
Phần I: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty In Hà Giang
Phần này phản ánh thực trạng tổ chức và kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty In Hà Giang. Tiền thân của đơn vị là Xí nghiệp In Hà Giang, thành lập trên cơ sở tiếp nhận nhân sự và máy móc từ Xí nghiệp In Hà Tuyên khi chia tách tỉnh. Ngày 01/12/1997, theo Quyết định số 1435/UB-QĐ của UBND Tỉnh Hà Giang, doanh nghiệp chuyển từ trực thuộc Tỉnh ủy sang trực thuộc UBND Tỉnh. Đến ngày 17/10/1998, UBND Tỉnh ban hành Quyết định số 1726/QĐ-UB/KTTH chuyển đơn vị sang hoạt động công ích và đổi tên thành Công ty In Hà Giang. Nhiệm vụ chính là in ấn các loại báo, tài liệu tuyên truyền, sách giáo khoa và các ấn phẩm phục vụ đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội tại địa phương.
Cơ cấu quản lý của công ty tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng, bao gồm Ban Giám đốc (1 Giám đốc, Phó Giám đốc), 4 phòng chức năng (Kế hoạch điều độ sản xuất, Kế toán, Hành chính tổ chức, Nghiệp vụ) và các đơn vị sản xuất: Phân xưởng Chế bản (khâu trước in), Phân xưởng Máy in (khâu in), Phân xưởng Sách (khâu sau in), Phân xưởng In thủ công/in lưới (gồm 5 cơ sở in từ số 2 đến số 6) và Cửa hàng giới thiệu, bán sản phẩm in. Toàn bộ doanh nghiệp có 14 cán bộ lãnh đạo cấp phòng, phân xưởng, trong đó 4 người có trình độ đại học (chiếm 28,6%), còn lại là trình độ trung cấp.
Về nguồn nhân lực, đến năm 2003, công ty có 72 cán bộ công nhân viên (nữ chiếm 40%, 70% là người địa phương). Trình độ lao động có sự phân hóa rõ rệt:
| Chỉ tiêu trình độ |
Số lao động (Người) |
Tỷ lệ (%) |
| Trình độ Đại học |
4 |
5,55 |
| Trình độ Trung cấp |
38 |
52,78 |
| Trong đó: Trung cấp chuyên ngành In |
32 |
44,44 |
| Trong đó: Trung cấp chuyên ngành khác |
6 |
8,33 |
| Lao động loại khác (sơ cấp, chưa qua đào tạo) |
30 |
41,67 |
| Tổng số lao động |
72 |
100,00 |
Mặc dù lao động trẻ khỏe chiếm 70%, song đội ngũ kỹ thuật và quản lý có độ tuổi bình quân cao, tốc độ trẻ hóa chậm, tỷ lệ đại học thấp. Thu nhập bình quân năm 1999 đạt 450.000 đồng/người/tháng, đến năm 2003 tăng lên mức 570.000 đồng/người/tháng. Năng suất lao động chưa cao do biên chế đông so với nhu cầu và công nghệ lạc hậu.
Về cơ sở vật chất và công nghệ, tổng diện tích mặt bằng là 639 $\text{m}^2$ (năm 2002 dùng quỹ phát triển sản xuất kinh doanh mua thêm gần 60 $\text{m}^2$). Khu vực máy móc bố trí trên diện tích 440 $\text{m}^2$. Công ty vận hành 3 dây chuyền sản xuất (tăng 1 dây chuyền so với trước, giúp năng suất tăng 1,5 lần). Danh mục máy móc thiết bị chủ yếu gồm:
- Dây chuyền in OPSET Nhật (nhập tháng 10/1994, nguyên giá 229.966 nghìn đồng).
- Dây chuyền in OPSET Nhật (nhập tháng 11/1994, nguyên giá 214.800 nghìn đồng).
- Máy quét ảnh Nhật (nhập tháng 05/1997, nguyên giá 56.000 nghìn đồng).
- Máy vào hồ nóng H.400 của Hàn Quốc.
- Máy in KOMORI 16 trang của Nhật với công suất 8.000 trang/giờ (trong khi máy in hiện đại cùng thời đạt 24.000 trang/giờ).
Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị có mức độ hao mòn lũy kế từ 47% đến 48%, vận hành kém đồng bộ.
Về sản phẩm và phân phối, mạng lưới tiêu thụ của công ty được phân định thành 2 tuyến:
- Sản phẩm kinh doanh (biểu mẫu, ấn phẩm ngoài chỉ tiêu nhà nước): Phân phối trực tiếp từ Nhà sản xuất đến Người tiêu dùng.
- Sản phẩm công ích (báo địa phương, tạp chí, sách giáo khoa do nhà nước đặt hàng): Nhà nước đặt hàng $\rightarrow$ Nhà sản xuất $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
Quy chuẩn kích thước trang in thống nhất là $13 \times 19\text{ cm}$. Khảo sát sản lượng tiêu thụ thực tế qua 5 năm (1999 – 2003) cho thấy tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân đạt 5% – 7%/năm:
| Nhóm sản phẩm (Triệu trang $13 \times 19\text{ cm}$) |
Năm 1999 |
Năm 2000 |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
| Tổng trang in |
43,180 |
44,800 |
48,000 |
50,600 |
53,700 |
| Báo các loại |
7,795 |
7,795 |
7,795 |
7,795 |
7,795 |
| - Báo thường kỳ (36 trang) |
7,603 |
7,603 |
7,603 |
7,603 |
7,603 |
| - Báo cực bắc (16 trang) |
0,192 |
0,192 |
0,192 |
0,192 |
0,192 |
| Sách giáo khoa |
12,400 |
13,640 |
14,880 |
16,120 |
17,200 |
| Tạp chí các loại |
9,953 |
10,545 |
10,666 |
12,381 |
13,150 |
| Biểu mẫu các loại |
13,032 |
12,820 |
14,659 |
14,304 |
15,560 |
Nhóm sản phẩm công ích chiếm tỷ trọng chi phối từ 69% đến 70% tổng sản lượng. Trong đó, sách giáo khoa in theo hợp đồng với Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội chiếm 42% – 44% sản lượng công ích (tăng từ 12,4 triệu trang năm 1999 lên 17,2 triệu trang năm 2003). Tạp chí các loại chiếm 22% – 23% tổng sản lượng. Ngược lại, sản lượng báo địa phương giữ nguyên tuyệt đối ở mức 7,795 triệu trang qua cả 5 năm do công tác phát hành trên địa bàn miền núi gặp nhiều khó khăn. Nhóm sản phẩm kinh doanh (biểu mẫu các loại) chiếm từ 28% đến 30% tổng sản lượng (đạt 15,560 triệu trang vào năm 2003).
Về giá trị doanh thu, tổng doanh thu năm 1999 đạt 3.082,5 triệu đồng và duy trì mức tăng trưởng 8% – 10%/năm. Cơ cấu doanh thu theo từng mặt hàng thể hiện như sau:
- Báo các loại: Đạt cố định 409,697 triệu đồng/năm suốt giai đoạn 1999 – 2003 (trong đó báo thường kỳ đạt 383,117 triệu đồng, báo cực bắc đạt 26,580 triệu đồng).
- Sách giáo khoa: Đạt 992 triệu đồng năm 1999 (chiếm 30,61% tổng doanh thu) và tăng lên 1.376 triệu đồng vào năm 2003 (chiếm 33,70% tổng doanh thu), đóng góp 45% – 50% doanh thu khối công ích.
- Tạp chí các loại: Năm 1999 đạt 796,240 triệu đồng; năm 2000 đạt 843,600 triệu đồng; năm 2001 đạt 853,280 triệu đồng; năm 2002 đạt 990,480 triệu đồng và năm 2003 đạt 1.052 triệu đồng.
- Biểu mẫu các loại: Doanh thu năm 1999 đạt 1.244,8 triệu đồng, là mặt hàng kinh doanh tự chủ mang lại nguồn thu quan trọng bù đắp chi phí cho doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của tác giả đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về hoạt động tiêu thụ sản phẩm in ấn tại một doanh nghiệp công ích địa phương:
- Đánh giá toàn diện cơ cấu sản lượng và doanh thu: Xác định tỷ trọng của nhóm sản phẩm công ích chiếm ưu thế tuyệt đối (69% – 70% sản lượng, 67% – 70% doanh thu), trong đó sản phẩm sách giáo khoa ký kết với Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội là động lực tăng trưởng chính của khối công ích, đóng góp 33,70% tổng doanh thu vào năm 2003.
- Nhận diện các điểm nghẽn kỹ thuật và tổ chức: Tác giả chỉ rõ thực trạng thiết bị máy móc cũ kỹ với mức hao mòn lũy kế từ 47% đến 48%, dây chuyền in KOMORI công suất chỉ bằng 1/3 thiết bị hiện đại cùng thời (8.000 trang/giờ so với 24.000 trang/giờ). Cơ cấu lao động tồn tại bất cập khi tỷ lệ đại học chỉ đạt 5,55%, lao động dôi dư cục bộ khiến thu nhập bình quân năm 2003 dừng ở mức 570.000 đồng/người/tháng.
- Đánh giá tính chất bất biến của sản phẩm báo địa phương: Minh chứng bằng số liệu thực tế qua 5 năm sản lượng báo địa phương không hề biến động (7,795 triệu trang/năm, doanh thu 409,697 triệu đồng/năm), cho thấy tính thụ động và sự phụ thuộc hoàn toàn vào hạn ngạch bao cấp phát hành của Nhà nước.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa phương pháp luận quản trị tiêu thụ gắn liền với loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích tại tỉnh miền núi; cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng chi tiết về ngành in địa phương trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn do điều kiện thực hiện:
- Tác giả tự nhận định do thời gian thực tập và nguồn lực nghiên cứu có hạn nên các đánh giá và nhận định còn mang nặng tính chủ quan của cá nhân người viết.
- Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở cấp độ các báo cáo tổng hợp nội bộ giai đoạn 1999 – 2003, chưa thực hiện các khảo sát định lượng chuyên sâu đối với người đọc hoặc các đại lý tiếp nhận ấn phẩm.
- Phần văn bản được công bố kết thúc ở nội dung phân tích thực trạng sản lượng và doanh thu của Phần I, chưa trình bày chi tiết các nhóm giải pháp của Phần II.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng vào việc:
- Hoàn thiện hệ thống giải pháp Marketing-mix chuyên biệt cho các ấn phẩm in thương mại nhằm bù đắp chi phí công ích.
- Xây dựng phương án đầu tư đổi mới công nghệ in hiện đại và tái cấu trúc nhân sự khi doanh nghiệp chuyển đổi từ mô hình hoạt động công ích sang mô hình công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế công nghiệp và Quản trị thương mại khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp về đề tài tiêu thụ sản phẩm, phân tích kênh phân phối hoặc quản trị doanh nghiệp nhà nước.
- Người làm nghiên cứu về kinh tế địa phương: Cung cấp nguồn số liệu lịch sử cụ thể về cơ cấu lao động, trang thiết bị máy móc và năng lực tiêu thụ sản phẩm in ấn của tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 1999 – 2003.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp in ấn địa phương: Phần lý luận về kênh tiêu thụ trực tiếp - gián tiếp, kỹ thuật cân đối sản xuất - dự trữ - bán hàng và bài học thực tiễn từ việc ký hợp đồng in sách giáo khoa với nhà xuất bản trung ương là những kinh nghiệm đáng tham khảo để duy trì việc làm và doanh thu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu tại doanh nghiệp nào và cơ sở pháp lý hình thành đơn vị đó ra sao?
Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty In Hà Giang. Đơn vị chuyển từ trực thuộc Tỉnh ủy sang trực thuộc UBND Tỉnh Hà Giang theo Quyết định số 1435/UB-QĐ ngày 01/12/1997, sau đó chuyển sang mô hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích theo Quyết định số 1726/QĐ-UB/KTTH ngày 17/10/1998 của UBND Tỉnh Hà Giang.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy và đặc điểm lao động của Công ty In Hà Giang năm 2003 có đặc điểm gì?
Công ty áp dụng mô hình trực tuyến - chức năng với 4 phòng chức năng, 4 phân xưởng sản xuất chính và 1 cửa hàng giới thiệu sản phẩm. Đến năm 2003, tổng số lao động là 72 người (nữ chiếm 40%, 70% người địa phương). Trình độ đại học chiếm 5,55% (4 người), trung cấp chiếm 52,78% (38 người, trong đó 32 người thuộc chuyên ngành in), lao động khác chiếm 41,67% (30 người). Thu nhập bình quân đạt 570.000 đồng/người/tháng.
3. Hiện trạng máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất của công ty ra sao?
Công ty bố trí máy móc trên mặt bằng 440 $\text{m}^2$ với 3 dây chuyền sản xuất. Hệ thống máy móc chủ yếu tiếp nhận từ Xí nghiệp In Tuyên Quang, mức độ hao mòn lũy kế từ 47% đến 48%. Máy in OPSET KOMORI 16 trang của Nhật có công suất 8.000 trang/giờ, thấp hơn nhiều so với tốc độ 24.000 trang/giờ của các dòng máy in hiện đại cùng thời kỳ.
4. Cơ cấu sản lượng tiêu thụ của công ty giai đoạn 1999 – 2003 biến động như thế nào?
Tổng sản lượng trang in quy chuẩn ($13 \times 19\text{ cm}$) tăng từ 43,18 triệu trang (năm 1999) lên 53,70 triệu trang (năm 2003). Nhóm sản phẩm công ích chiếm 69% – 70% tổng sản lượng. Trong đó, sách giáo khoa tăng từ 12,4 triệu lên 17,2 triệu trang; tạp chí tăng từ 9,953 triệu lên 13,150 triệu trang; riêng báo địa phương giữ nguyên ở mức 7,795 triệu trang qua tất cả các năm. Sản phẩm kinh doanh (biểu mẫu) đạt từ 12,82 triệu đến 15,56 triệu trang.
5. Sản phẩm nào đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào doanh thu của Công ty In Hà Giang?
Trong khối sản phẩm công ích, sách giáo khoa in ấn cho Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội đóng góp tỷ trọng lớn nhất, chiếm từ 45% đến 50% doanh thu công ích và chiếm 33,70% tổng doanh thu toàn công ty vào năm 2003 (đạt 1.376 triệu đồng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung đã hệ thống hóa toàn diện các lý luận kinh tế về quản trị tiêu thụ sản phẩm, chính sách giá và tổ chức mạng lưới phân phối trong cơ chế thị trường. Thông qua nguồn dữ liệu thực tế giai đoạn 1999 – 2003 tại Công ty In Hà Giang, tác giả đã làm rõ thực trạng tiêu thụ với cơ cấu sản phẩm công ích chiếm ưu thế, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn nghiêm trọng về máy móc thiết bị cũ kỹ và chất lượng nguồn nhân lực. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quản lý sản xuất, tiêu thụ tại các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trên địa bàn miền núi.