CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái quát về đăng ký đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất 1. Khái niệm “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính.” (Điều 3 Luật Đất đai 2013 Quốc hội, 2013) Trong đó Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.
Phân loại Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được phân thành hai loại: * Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu: - Đăng ký lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau đây (Quốc hội, 2013) + Thửa đất được giao, cho thuê để sử dụng; + Thửa đất đang sử dụng mà chưa đăng ký; + Thửa đất được giao để quản lý mà chưa đăng ký; + Nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa đăng ký. * Đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất + Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; + Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên; + Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất; + Có thay đổi về tài sản gắn liền với đất so với nội dung đã đăng ký; + Chuyển mục đích sử dụng đất; + Có thay đổi thời hạn sử dụng đất; 5 + Chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê; từ hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang hình thức thuê đất; từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật này. + Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng; + Chia tách quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức hoặc của hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất; + Thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật; + Xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề; + Có thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và có giá trị pháp lý như nhau.
Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính. Đặc điểm của đăng ký đất đai * Đăng ký đất mang tính đặc thù của quản lý Nhà nước về đất đai Đăng ký đất là công việc của hệ thống quản lý Nhà nước ở các cấp, do hệ thống tổ chức ngành địa chính trực tiếp thực hiện. 6 Công tác quản lý đất đai dựa trên nền tảng của hệ thống pháp luật. Luật Đất đai xác định rõ hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai là hệ thống thống nhất từ Trung ương (TW) đến địa phương.
Cơ quan quản lý đất đai cao nhất ở TW là Bộ TN & MT, cơ quan quản lý đất đai cao nhất ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc TW, thành phố thuộc tỉnh, quận, huyện, thị xã là Sở và Phòng TN & MT tương ứng; Cấp xã, phường, thị trấn là bộ phận địa chính. * Đăng ký đất thực hiện với đối tượng đặc biệt là đất đai Đăng ký đất thực chất là đăng ký quyền sử dụng đất. Điều 17, Luật Đất đai 2013, Nhà nước thực hiện việc trao quyền sử dụng đất dưới ba hình thức: giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất. Ba hình thức này chỉ áp dụng cho một số loại đối tượng và sử dụng vào một số mục đích cụ thể.
Đối với từng loại đối tượng sử dụng, từng mục đích sử dụng có những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, việc đăng ký đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật và xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất phải đăng ký (Quốc hội, 2013) * Đăng ký đất đai thực hiện theo phạm vi đơn vị hành chính cấp xã Theo quy định của Luật Đất đai, công tác đăng ký đất, thiết lập HSĐC được tiến hành theo đơn vị hành chính cấp xã. Bộ máy Nhà nước hiện nay ở nước ta được tổ chức thành 4 cấp, bao gồm: xã, huyện, tỉnh, trung ương. Trong đó mọi hoạt động về kinh tế - xã hội đều diễn ra trực tiếp ở cấp xã, do vậy đều có liên quan đến tình hình quản lý và sử dụng đất đai.
Vì vậy, để tăng cường cũng như nâng cao hiệu quả của công việc quản lý và sử dụng đất đai thì các thông tin về đất đai cần được quản lý theo đơn vị hành chính cấp xã. Một mặt giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ hơn về đất đai, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư khai thác sử dụng đất đạt hiệu quả cao. Vai trò của đăng ký đất đai Đối với Nhà nước: Đăng ký đất đai là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Là điều kiện đảm bảo để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ nhằm sử dụng đất có hiệu quả, đảm bảo cho đất đai sử dụng đầy đủ hợp lý, tiết 7 kiệm.
Và đăng ký đất đai cũng là một nội dung quan trọng có quan hệ với các nội dung nhiệm vụ khác của Nhà nước trong công tác quản lý về đất đai. Đăng ký đất đai là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thiết lập hồ sơ địa chính, là căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài và cho các tổ chức tôn giáo tín ngưỡng. Đăng ký đất đai là cơ sở cho việc Nhà nước thực hiện các nội dung trong nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai cụ thể: + Việc xây dựng, ban hành các văn bản, thông tư, hướng dẫn về quản lý, sử dụng đất: Các văn bản thông tư, hướng dẫn về quản lý sử dụng đất, sở hữu nhà là cơ sở pháp lý cho việc đăng ký đất đai thực hiện đúng thủ tục, đúng đối tượng, đúng quyền và đúng nghĩa vụ của người sử dụng đất. + Với công tác điều tra đo đạc đất: Để xác định được chính xác vị trí thửa đất, hình thể, kích thước, diện tích, loại đất và tên chủ sử dụng đất của từng thửa đất thì việc đo đạc, xác định mốc giới ranh giới đóng vị trí quan trọng, nhờ đó có thể xây dựng hệ thống bản đồ địa chính một cách hoàn thiện và chính xác hơn.
Kết quả của việc đo đạc, điều tra là nền tảng cho việc xác định vị trí, hình thể, kích thước, diện tích, loại đất và tên NSDĐ đang thực tế sử dụng đất để phục vụ yêu cầu NSDĐ kê khai đăng ký. + Với công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là căn cứ pháp lý cho việc giao đất dựa theo nhu cầu sử dụng đất của từng địa phương, và là điều kiện cho việc thiết lập hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho NSDĐ, đảm bảo cho việc sử dụng đất ổn định hợp lý, hiệu quả. Kết quả của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo cho việc thiết lập một hệ thống hồ sơ địa chính ổn định, ít biến động. + Với công tác giao đất, cho thuê đất: Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai cho hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư là những giấy tờ có pháp lý cao nhất để xác định nguồn gốc quá trình sử dụng đất của NSDĐ.
Trên cơ sở đó nhà nước tiến hành kê khai, đăng ký cấp GCN QSD đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. + Đối với công tác xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Việc xác định nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất là cơ sở cho việc xác định nghĩa vụ tài chính 8 của người sử dụng đất, sở hữu nhà ở, trước và sau khi kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nhà nước thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào những mục đích cụ thể như: phát triển kinh tế, xã hội, phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ công tác đấu giá QSD đất, phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng…., việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất chính là cơ sở cho việc xác định nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất được nhà nước bồi thường, hỗ trợ theo quy định. + Công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở: Hiện nay vấn đề tranh chấp đất đai diễn ra khá phức tạp, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.