Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang thuộc tỉnh Tuyên Quang sở hữu diện tích rừng đặc dụng rộng lớn với hệ sinh thái phong phú, nhưng đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm và vùng lõi lại đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Theo số liệu khảo sát giai đoạn 2011 - 2016, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã trong khu vực bảo tồn vẫn duy trì ở mức đáng báo động, dao động từ 48,5% đến 56,2%, cao gấp hơn 3 lần so với tỷ lệ nghèo bình quân chung của cả nước tại cùng thời điểm. Đa số người dân nơi đây là đồng bào các dân tộc thiểu số như Tày, Dao, H'Mông với nguồn sinh kế truyền thống phụ thuộc gần như hoàn toàn vào việc canh tác nương rẫy và thu hái lâm sản tự nhiên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ mâu thuẫn nội tại giữa yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên rừng đặc dụng và nhu cầu mưu sinh cấp thiết của người dân nghèo. Khi quy chế quản lý bảo tồn hạn chế các hoạt động khai thác tài nguyên truyền thống, người nông dân thiếu các nguồn sinh kế thay thế dẫn đến tình trạng suy giảm thu nhập và nguy cơ tái nghèo kéo dài. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập hộ nông dân và giảm nghèo, đánh giá toàn diện thực trạng nguồn thu, cơ cấu chi tiêu và các nhân tố chi phối thu nhập của hộ nghèo tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp quản lý kinh tế đồng bộ nhằm nâng cao thu nhập một cách bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tập trung tại địa bàn các xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang với dữ liệu thống kê, khảo sát chuyên sâu năm 2016 và chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2016. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu hướng tới mục tiêu thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ nghèo tăng trưởng tối thiểu 12% - 15%/năm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo địa phương từ 3,5% đến 4,0% mỗi năm, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khung lý thuyết kinh tế học căn bản: Lý thuyết kinh tế hộ nông dân của Chayanov và Khung sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) phát triển. Theo lý thuyết kinh tế hộ, hộ nông dân vừa là một đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là một đơn vị tiêu dùng hoàn chỉnh; các quyết định phân bổ nguồn lực lao động, đất đai và vốn luôn chịu sự chi phối chặt chẽ giữa mục tiêu tối đa hóa thu nhập và mức độ chấp nhận rủi ro sinh kế. Bên cạnh đó, khung sinh kế bền vững giúp nhận diện 5 nguồn vốn sinh kế thiết yếu của hộ nông dân bao gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.

Mô hình nghiên cứu phân tích hàm thu nhập hộ gia đình được thiết lập nhằm lượng hóa mối quan hệ tương tác giữa tổng thu nhập ròng của hộ với các biến số độc lập thuộc hai nhóm nhân tố bên trong (diện tích đất canh tác, trình độ văn hóa của chủ hộ, số lượng lao động, quy mô tài sản sản xuất) và các biến số thuộc nhóm nhân tố bên ngoài (khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách, hạ tầng giao thông kết nối, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, chính sách khuyến nông).

Trong khuôn khổ đề tài, 4 khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Hộ nông dân: Đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
  2. Thu nhập của hộ nông dân: Toàn bộ các khoản thu bằng tiền và hiện vật thu được từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, phi nông nghiệp sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất trung gian hợp lý trong vòng 1 năm.
  3. Chuẩn nghèo đa chiều: Thước đo đánh giá sự thiếu hụt không chỉ về thu nhập mà còn về các dịch vụ xã hội cơ bản theo quy định hiện hành.
  4. Quản lý kinh tế vùng đệm: Cơ chế điều phối các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nhằm giảm thiểu áp lực xâm hại vào vùng lõi rừng đặc dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ tháng 10/2016 đến tháng 06/2018. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Na Hang, các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Na Hang và các văn bản quy hoạch phát triển của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2016.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua cuộc điều tra khảo sát chọn mẫu với quy mô 150 hộ nông dân nghèo và cận nghèo tại 4 xã đại diện cho các phân vùng địa hình và dân tộc khác nhau thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (bao gồm xã Thanh Tương, Côn Lôn, Sơn Phú và Khau Tinh). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được ứng dụng nhằm bảo đảm tính đại diện thống kê theo cơ cấu dân tộc (dân tộc Tày chiếm 44,7%, dân tộc Dao chiếm 32,0%, dân tộc H'Mông chiếm 15,3% và dân tộc Kinh chiếm 8,0%). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 12 cán bộ khuyến nông, kiểm lâm và trưởng thôn bản để bổ trợ thông tin định tính.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tổ thống kê, phân tích so sánh tỷ trọng và kiểm định tương quan. Lý do lựa chọn phương pháp phân tổ thống kê và phân tích định lượng là nhằm bóc tách chính xác các khoản mục thu nhập, cơ cấu chi tiêu và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố sản xuất đến đời sống kinh tế của hộ nông dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho các đề xuất chính sách can thiệp có tính khả thi cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu khảo sát thực tế 150 hộ nghèo tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang năm 2016 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu thu nhập của hộ nông dân nghèo còn hết sức đơn điệu và phụ thuộc sâu sắc vào sản xuất nông - lâm nghiệp truyền thống. Nguồn thu từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối lên tới 68,4% tổng thu nhập bình quân của hộ, trong đó trồng trọt cây lương thực (lúa, ngô) đóng góp 42,1% và chăn nuôi nhỏ lẻ đóng góp 26,3%. Ngược lại, nguồn thu từ các hoạt động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tiền công dịch vụ chỉ chiếm khoảng 18,2%, trong khi thu nhập từ chính sách bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng chỉ chiếm 5,8%, phần còn lại 7,6% là các khoản hỗ trợ xã hội và kiều hối.

Thứ hai, mức thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ khảo sát đạt mức rất thấp, chỉ khoảng 780.000 đồng/người/tháng. Đáng chú ý, cơ cấu chi tiêu gia đình cho thấy áp lực chi phí sinh hoạt thiết yếu là vô cùng lớn: chi cho ăn uống, lương thực thực phẩm chiếm tới 64,8% tổng chi tiêu, chi cho giáo dục và y tế chiếm 19,5%, còn chi phí tái đầu tư cho sản xuất nông nghiệp chỉ đạt 11,2%. Do đó, tỷ lệ tích lũy và tiết kiệm của các hộ nghèo gần như không đáng kể, bình quân chỉ đạt 4,5% tổng thu nhập năm (tương đương dưới 1.400.000 đồng/hộ/năm), khiến hộ dân hoàn toàn không có khả năng chống chịu trước các cú sốc về dịch bệnh hoặc thiên tai.

Thứ ba, tình trạng thiếu hụt nguồn lực sản xuất cốt lõi diễn ra phổ biến. Bình quân diện tích đất canh tác nông nghiệp của hộ nghèo chỉ đạt 0,34 ha/hộ, trong đó đất ruộng nước chỉ chiếm khoảng 0,08 ha/hộ, còn lại là đất nương đồi có độ dốc cao và manh mún. Trình độ học vấn của các chủ hộ khảo sát rất thấp với 74,0% chỉ học hết bậc tiểu học hoặc trung học cơ sở, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm tới 88,7%. Ngoài ra, có hơn 61,3% số hộ được hỏi phản ánh gặp khó khăn trong việc tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi quy mô trên 30 triệu đồng do thủ tục rườm rà và tâm lý e ngại rủi ro nợ nần.

Thứ tư, phương thức sản xuất của người dân còn mang nặng tính tự cung tự cấp. Tỷ lệ nông sản hàng hóa bán ra thị trường chỉ đạt dưới 28,5% sản lượng thu hoạch, phần lớn ngô và lúa được giữ lại làm lương thực gia đình và làm thức ăn chăn nuôi gia súc, dẫn tới giá trị gia tăng thu về trên một đơn vị diện tích canh tác rất hạn chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của mức thu nhập thấp tại khu vực nghiên cứu xuất phát từ địa hình đồi núi dốc trên 25 độ chia cắt mạnh, giao thông liên thôn bản cách trở khiến chi phí vận chuyển phân bón, giống cây trồng tăng cao hơn thị trường từ 15% đến 25%, đồng thời thương lái thường ép giá nông sản khi thu mua. Thêm vào đó, việc thực thi nghiêm ngặt quy chế quản lý rừng đặc dụng tại Na Hang đã hạn chế quyền chăn thả gia súc tự do và thu hái lâm sản phụ của người dân, trong khi các chính sách sinh kế hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp chưa được giải ngân kịp thời và đồng bộ.

Khi so sánh với các nghiên cứu sinh kế tại Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), kết quả này phản ánh sự tương đồng rõ rệt về hiện tượng "bẫy nghèo sinh thái" tại các vùng đệm rừng đặc dụng miền núi phía Bắc. Ở cả ba khu vực, người dân tộc bản địa đều gặp khó khăn trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế do rào cản về vốn và kiến thức khoa học kỹ thuật.

Để biểu diễn trực quan các phát hiện trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được thiết kế thành biểu đồ hình quạt mô tả tỷ trọng các nguồn hình thành thu nhập của hộ nông dân nghèo (nông nghiệp 68,4%, phi nông nghiệp 18,2%, hỗ trợ xã hội 7,6%, lâm nghiệp 5,8%) kết hợp bảng ma trận phân tổ thể hiện mối tương quan thuận giữa số năm đi học của chủ hộ với mức thu nhập ròng hàng năm. Sự kết hợp này minh chứng rõ nét rằng việc nâng cao dân trí và vốn sản xuất là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy thu nhập cho người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, 4 nhóm giải pháp quản lý kinh tế trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang:

Một là, mở rộng và linh hoạt hóa chính sách tín dụng vi mô phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Na Hang phối hợp với chính quyền 4 xã vùng bảo tồn nâng hạn mức cho vay tín chấp đối với hộ nghèo từ 30 triệu đồng lên mức 50 - 100 triệu đồng/hộ, áp dụng mức lãi suất ưu đãi 0,4%/tháng với thời hạn vay từ 36 đến 60 tháng trong giai đoạn 2019 - 2022. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính sách đạt tối thiểu 85% vào cuối năm 2022.

Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chuyển giao khoa học kỹ thuật khuyến nông. Trạm Khuyến nông huyện Na Hang cùng Ủy ban nhân dân các xã triển khai chuyển đổi 180 ha đất trồng ngô nương năng suất thấp sang trồng các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như chè Shan tuyết, mận máu, lê xanh và phát triển đàn lợn đen bản địa, gà đồi thả vườn giai đoạn 2019 - 2023. Đơn vị cần tổ chức ít nhất 20 lớp tập huấn thực hành "cầm tay chỉ việc" mỗi năm, hướng tới mục tiêu tăng giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất canh tác thêm 30% đến 35%.

Ba là, phát triển mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp gắn liền với du lịch sinh thái cộng đồng. Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang phối hợp với Phòng Văn hóa - Thông tin huyện xây dựng 05 hợp tác xã du lịch cộng đồng (homestay) tại các thôn bản có cảnh quan đẹp như Khau Tinh, Hồng Thái trong giai đoạn 2020 - 2025. Đồng thời, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nâng mức chi trả tiền nhận khoán bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng từ 200.000 đồng/ha/năm lên mức tối thiểu 400.000 đồng/ha/năm, giúp tạo thêm việc làm phi nông nghiệp cho hơn 350 lao động địa phương.

Bốn là, tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp và kết nối giải quyết việc làm ngoài nông nghiệp. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Na Hang chủ trì liên kết với các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề của tỉnh tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn (may công nghiệp, xây dựng, mây tre đan xuất khẩu) cho 200 - 300 lao động nông thôn mỗi năm giai đoạn 2020 - 2025. Phấn đấu chuyển dịch từ 10% đến 15% lao động nông nghiệp nghèo sang làm việc tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh để tạo nguồn thu ổn định gửi về cho gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh (Ủy ban nhân dân huyện Na Hang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tuyên Quang). Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng tin cậy giúp các cơ quan này xây dựng kế hoạch phân bổ vốn cho các Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo bền vững và Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn trung hạn.

Thứ hai, Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia và các hạt Kiểm lâm trên toàn quốc. Các đơn vị có thể khai thác mô hình quản lý đồng quản lý rừng (co-management), phương án chi trả dịch vụ môi trường rừng kết hợp giải quyết bài toán mưu sinh cho cư dân bản địa để áp dụng vào các khu bảo tồn có điều kiện tự nhiên tương tự.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các khối ngành Quản lý Kinh tế, Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn và Quản lý Tài nguyên Môi trường. Luận văn là một nghiên cứu tình huống (case study) điển hình về phương pháp khảo sát kinh tế hộ, thiết kế bảng hỏi điều tra phân tầng và ứng dụng khung sinh kế bền vững trong phân tích định lượng.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), tổ chức phát triển quốc tế và các quỹ tín dụng vi mô hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ cộng đồng yếu thế và bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp các chỉ số đo lường chi tiết về nhu cầu vốn, khả năng hấp thụ kỹ thuật và các rào cản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, phục vụ công tác thiết kế các dự án tài trợ sinh kế hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang có những đặc thù tự nhiên nào gây cản trở lớn nhất đến việc tăng thu nhập của hộ nghèo? Đặc thù lớn nhất là địa hình đồi núi dốc hiểm trở với hơn 75% diện tích có độ dốc trên 25 độ, gây xói mòn đất nghiêm trọng và chia cắt mạng lưới giao thông. Trong thực tế tại các xã vùng lõi như Khau Tinh hay Sơn Phú, việc vận chuyển nông sản ra thị trường trong mùa mưa thường xuyên bị đình trệ, đẩy chi phí trung gian tăng thêm 20% so với vùng thấp.

Vì sao nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng và lâm nghiệp chưa thể giúp người dân Na Hang thoát nghèo? Mặc dù người dân sinh sống gắn liền với rừng đặc dụng, nhưng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trong giai đoạn nghiên cứu chỉ đạt khoảng 200.000 đồng/ha/năm, chỉ đóng góp 5,8% trong tổng thu nhập của hộ. Mức hỗ trợ này quá thấp so với chi phí cơ hội bỏ ra khi không được khai thác gỗ và lâm sản phụ, khiến lâm nghiệp chưa thể trở thành nguồn thu đột phá.

Mô hình chuyển đổi sinh kế nào được đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho hộ nghèo tại địa phương? Mô hình nông - lâm kết hợp trồng cây ăn quả đặc sản (mận máu, chè Shan tuyết) và dược liệu bản địa dưới tán rừng kết hợp chăn nuôi đại gia súc có chuồng trại mang lại giá trị cao nhất. Tại một số địa phương vùng đệm, các hộ tham gia hợp tác xã sản xuất chè Shan tuyết đạt mức thu nhập tăng từ 35% đến 40% so với mô hình độc canh ngô truyền thống.

Quy mô mẫu 150 hộ điều tra trong luận văn được lựa chọn theo tiêu chí khoa học nào? Mẫu 150 hộ được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại 4 xã đại diện (Thanh Tương, Côn Lôn, Sơn Phú, Khau Tinh), phân bổ theo tỷ lệ hộ nghèo và cơ cấu dân tộc thiểu số đặc trưng (Tày chiếm 44,7%, Dao chiếm 32,0%, H'Mông chiếm 15,3%). Quy mô mẫu này bảo đảm độ tin cậy thống kê 95% và sai số mẫu dưới 8% trong phân tích kinh tế lượng.

Giải pháp nào giúp giải quyết triệt để điểm nghẽn thiếu vốn sản xuất cho hộ nghèo? Luận văn đề xuất nâng hạn mức vay vốn chính sách lên 50 - 100 triệu đồng với thời hạn 3 - 5 năm, đồng thời bãi bỏ yêu cầu thế chấp tài sản bằng hình thức ủy thác qua các tổ vay vốn phụ nữ, nông dân. Quan trọng nhất là chính quyền địa phương phải gắn giải ngân vốn vay với các khóa đào tạo kỹ thuật bắt buộc để bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn đạt trên 90%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về quản lý kinh tế hộ nông dân, sinh kế bền vững và giảm nghèo đa chiều tại các khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên.
  • Công trình phản ánh trung thực thực trạng kinh tế của 150 hộ nông dân nghèo tại Na Hang năm 2016 với mức thu nhập bình quân chỉ 780.000 đồng/người/tháng và 68,4% thu nhập lệ thuộc vào nông nghiệp.
  • Nghiên cứu đã làm rõ 4 điểm nghẽn then chốt kìm hãm thu nhập bao gồm: đất canh tác manh mún (0,34 ha/hộ), thiếu hụt vốn sản xuất, trình độ lao động thấp (88,7% chưa qua đào tạo) và tác động hạn chế từ quy chế bảo tồn rừng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình thực thi giai đoạn 2019 - 2025 về tín dụng chính sách, khuyến nông, phát triển du lịch cộng đồng và chuyển dịch việc làm phi nông nghiệp.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho công tác hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững của tỉnh Tuyên Quang và các địa phương có khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục khai thác các mô hình kinh tế sinh thái này nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng cao phúc lợi cho cộng đồng cư dân vùng đệm.