CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về thu nhập của nông dân 1. Những nghiên cứu về bản chất phạm trù thu nhập của người lao động trong lý thuyết cổ điển và C. Trong lịch sử tư tưởng kinh tế, các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển, các nhà kinh tế chính trị tiểu tư sản, xã hội chủ nghĩa không tưởng và C.Mác đã đặt nền móng và từng bước tiến sâu vào vạch rõ nguồn gốc và bản chất của các khoản thu nhập.
Ở đây chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu lý thuyết thu nhập của người lao động làm thuê.Tư tưởng thu nhập của người lao động của các nhà kinh tế học cổ điển Các nhà kinh tế học Cổ điển mà đại biểu như: Adam Smith (1723-1790), David Ricardo (1772-1823), Jean Charles Leonard Simonde de Sismondi (1773 – 1842) có chung một quan điểm là trong điều kiện của xã hội tư bản, người lao động là người làm thuê, họ nhận được một số tiền từ phía chủ sau khi đã làm việc cho chủ với một thời gian nhất định. Số tiền đó được gọi là tiền lương. Họ xác định cơ sở của lượng tiền lương là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân làm thuê và giáo dục, nuôi dưỡng con cái anh ta để có thể đưa ra thay thế trên thị trường lao động. Nhìn chung, tư tưởng về tiền lương (thu nhập) của người công nhân là tiền công của lao động, hay nói cách khác, thu nhập của công nhân có nguồn gốc là từ việc làm.
Đó là tiền công của người lao động làm việc cho chủ.2 Tư tưởng tiền lương của Các Mác (1818 - 1883). Trong tác phẩm Tư bản C.Mác chỉ rõ, công nhân làm việc cho các nhà tư bản trong một thời gian nào đó, sản xuất ra một lượng hàng hoá nào đó, thì nhận được một số tiền trả công nhất định. Tiền công đó chính là tiền lương. Tiền lương không phải là giá trị hay là giá cả của lao động.
Vì lao động không phải là hàng hoá và 5 không phải là đối tượng mua bán. Cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động. Từ việc giải thích đó C.Mác khẳng định bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá trị hay giá cả lao động.
Mác cũng chỉ rõ giá trị sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta. Nó bao gồm cả những yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần lịch sử. Vì vậy khi xác định tiền lương phải xác định các yếu tố sau: giá trị tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta; nhu cầu về tinh thần, lịch sử, dân tộc; chi phí học tập, nâng cao trình độ; chi phí nuôi sống người công nhân khi về hưu. Các lý thuyết hiện đại về thu nhập 1.
Những vấn đề bản chất của thu nhập và phân phối thu nhập trong các lý thuyết kinh tế học hiện đại. Khác với các nhà kinh tế học cổ điển và C. Mác, các nhà kinh tế học hiện đại không đi vào giải thích bản chất của thu nhập mà họ quan tâm đến chính sách thu nhập. Họ coi chính sách thu nhập như là một công cụ chủ yếu của kinh tế vĩ mô, nhà nước điều tiết thu nhập và giải quyết vấn đề công bằng xã hội, một trong những mục tiêu mà bất cứ một nền kinh tế nào cũng phải đạt tới.
Chính vì thế, nội dung cốt lõi của chính sách thu nhập là vấn đề phân phối thu nhập. Các vấn đề xung quanh việc phân phối thu nhập thuộc loại gây nhiều tranh cãi nhất trong tất cả các loại hình kinh tế học. Có ý kiến cho rằng thu nhập cao là kết quả của sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp lớn. Một số khác cho rằng tiền công và lợi nhuận chỉ là kết quả hoạt động của thị trường có tính cạnh tranh.
Hoặc dù thế nào đi chăng nữa, chính phủ nên sử dụng quyền lực của mình để phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo bằng công cụ thuế và chuyển khoản. Những tư tưởng này có thể tìm thấy ở trong các tác phẩm của John Bates Clark, Alfred Monshall, Pigou, P. Những nghiên cứu về xu thế đa dạng hóa việc làm của nông dân trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ nhất, nghiên cứu ngoài nước về xu thế đa dạng hóa việc làm của nông dân.
Thực tiễn cho thấy tác phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm biến đổi cơ cấu lao động và cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế nói chung, đối với khu vực nông thôn và đối tượng nông dân nói riêng. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra xu hướng này dưới các cách tiếp cận khác nhau. Trong “Lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa”, Harry T. Oshima chỉ ra rằng khu vực nông nghiệp làm việc theo mùa vụ, thời gian nông nhàn lớn.
Trong điều kiện đó, con đường tăng trưởng kinh tế, do đó cũng để tăng thu nhập cho nông dân ở các nước này là cần tạo thêm việc làm cho khu vực nông thôn. Việc tạo ra việc làm tại chỗ là phù hợp với nhu cầu lao động nông nghiệp biến đổi theo mùa vụ, vừa tăng thêm thu nhập cho nông dân là con đường tăng trưởng bền vững của các nước Châu Á gió mùa [23]. (1955) lại tiếp cận theo hướng khác. Trong “Lý thuyết tăng trưởng kinh tế” ông đã nghiên cứu tình trạng lao động, việc làm và thu nhập ở các nước đang phát triển.
Ông chỉ ra rằng lao động khu vực nông nghiệp có thu nhập nhấp, ở khu vực công nghiệp có thu nhập cao hơn. Do đó với một mức tiền lương cao hơn thì dễ thu hút sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang làm việc. Từ đó, chuyển việc làm từ nông nghiệp sang việc làm trong khu vực công nghiệp, theo ông là một xu hướng biến đổi tấy yếu đối với khu vực nông thôn dưới tác động của phát triển công nghiệp [91]. đã phân tích lý do người lao động thực hiện di cư tìm việc làm với thu nhập cao hơn trong quá trình phát triển kinh tế.
Nói cách khác, theo phân tích của Torado M. trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều người sẽ rời bỏ việc làm nông nghiệp với thu nhập thấp trước đây để chuyển sang làm ở những ngành nghề có thu nhập cao hơn nơi đô thị [114]. 7 Thứ hai, những nghiên cứu trong nước về xu thế đa dạng hóa việc làm của nông dân. Nghiên cứu về đa dạng hóa việc làm trong khu vực nông thôn do tác động của CNH, HĐH, sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế cũng được nhiều tác giả trong nước chú ý.
Triệu Đức Hạnh trong phần thực hiện lý do nghiên cứu của đề tài luận án khẳng định, khu vực nông thôn tập trung đại bộ phận lao động của đất nước, tuy nhiên lao động ở khu vực này lại đang ở trong tình trạng thiếu việc làm bởi những năm 2004-2006 khi mà tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông nghiệp là 5,4% nhưng hệ số co giãn việc làm so với 1% tăng trưởng kinh tế của nông thôn chỉ là 0,43, nghĩa là mỗi năm khu vực nông nghiệp chỉ tạo thêm được số việc làm mới bằng 2,3% lực lượng lao động. Nói cách khác, theo nhận định của Triệu Đức Hạnh thì mỗi năm trong khu vực nông thôn có gần 1 triệu lao động tăng thêm không tìm được việc làm từ ngành nông nghiệp. Dó đó vấn đề tạo thêm việc làm cho nông dân là một yêu cầu bức xúc [22]. Nguyễn Văn Đại nhấn mạnh trong nghiên cứu của mình là khu vực nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào về số lượng nhưng kém về chất lượng, tính đến năm 2012 Đảng và Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này.
Trong giai đoạn tới, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông thôn thì các biện pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho lao động ở khu vực này là điều có ý nghĩa cấp thiết [15]. Phạm Lan Hương đã chỉ ra trong quá trình CNH, HĐH cơ cấu kinh tế nông thôn đang dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng các ngành sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ. Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu sản xuất cũng chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng các ngành sản xuất trồng trọt, tăng giá trị sản xuất các ngành chăn nuôi và thủy sản, chuyển dịch từ phương thức sản xuất phân tán sang sản xuất tập trung và sản xuất hàng hóa. Sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tất yếu ảnh hưởng đến cơ cấu ngành 8 nghề của lao động.
Nhiều lao động làm nông nghiệp trước đây phải thực hiện chuyển đổi nghề, hoặc phải làm nhiều nghề để đảm bảo thu nhập là điều tất yếu [29]. Nghiên cứu này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Đình Phan và các cộng sự khi đề cập đến xu hướng tất yếu của chuyển đổi ngành nghề trong khu vực nông thôn Việt Nam [37]. Bạch Thị Lan Anh [1] và Nguyễn Thị Thu Hường [30] đã chỉ ra phát triển các làng nghề sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại cũng như thực hiện mục tiêu ly nông bất ly hương ở nông thôn. Làng nghề ở Việt Nam trong đó một bộ phận quan trọng là làng nghề thủ công truyền thống với sản phẩm đặc trưng là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo.
Các sản phẩm này vừa mang giá trị kinh tế vừa hàm chứa nghệ thuật văn hóa dân tộc. Phát triển làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng không những có vai trò quan trọng trong đa dạng hóa việc làm và thu nhập, mà còn mang ý nghĩa là giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.