Chương 1 tác giả sẽ đề cập các lý thuyết liên quan đến nội dung đề tài. Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Sự thỏa mãn trong công việc không phải là một khái niệm thống nhất bởi nó xuất phát từ những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu. Kusku (2003) giả định rằng sự thỏa mãn trong công việc phản ánh nhu cầu, ham muốn và cảm giác nhận thức của nhân viên về công việc của họ. Wright và Kim (2004) cho rằng việc làm thỏa mãn là sự phù hợp giữa những gì nhân viên muốn từ công việc và những gì họ cảm nhận về công việc.
Một số nhà nghiên cứu khác xem xét việc làm thỏa mãn công việc cũng như cảm nhận tích cực của nhân viên với công việc và nó được thể hiện thông qua hành vi và niềm tin của họ (Vroom, 1964; Locke, 1976; Quinn và Staines, 1979; Weiss và các cộng sự, 1967). Theo Nguyễn Hữu Lam (2011), sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên là thái độ của nhân viên đối với công việc họ đang làm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thỏa mãn trong công việc là sự thỏa mãn với các khía cạnh của công việc. Mức độ thỏa mãn với từng khía cạnh của công việc sẽ ảnh hưởng đến thái độ và nhận thức của nhân viên.
Điều này được chứng minh rõ ràng trong các nghiên cứu về chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith và các cộng sự (1969 trích dẫn từ Luddy, 2005). Trong nghiên cứu của Smith và các cộng sự, thỏa mãn trong công việc được thể hiện trong năm yếu tố chính bao gồm: (1) Bản chất công việc, (2) Cơ hội thăng tiến, (3) Cấp trên, (4) Đồng nghiệp, và (5) Tiền lương. Những khía cạnh của công việc từ nghiên cứu của Smith cũng được công nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu trong các nghiên cứu khác nhau (Spector, 1997; Trần Kim Dung, 2005; Luddy, 2005). 123doc 6 Nói chung, có hai cách để định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc bao gồm (1) Xem xét sự thỏa mãn trong công việc như là một biến chung mang tính chất tình cảm (tích cực và tiêu cực) của nhân viên với công việc ảnh hưởng đến niềm tin và thái độ của họ; (2) Xem xét sự thỏa mãn trong công việc trên các khía cạnh riêng biệt khác nhau.
Tầm quan trọng của sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Sự thỏa mãn trong công việc là quan trọng bởi vì thái độ và niềm tin của một người có thể ảnh hưởng đến hành vi của họ. Thái độ và niềm tin có thể khiến cho một người làm việc chăm chỉ hơn hoặc ngược lại có thể làm việc ít hơn. Hiệu suất của nhân viên Mối liên hệ giữa việc làm thỏa mãn và hiệu suất công việc có một lịch sử lâu dài và gây nhiều tranh cãi. Các nhà nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu về liên kết giữa sự thỏa mãn và hiệu suất thông qua việc nghiên cứu Hawthorne 1924-1933 (Naidu, 1996).
Từ các nghiên cứu Hawthorne, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm "một người lao động hạnh phúc là một người làm việc có hiệu suất". Kết quả nghiên cứu của Iaffaldano và Muchinsky (1985) đã tìm thấy sự tương quan yếu giữa sự thỏa mãn công việc và hiệu suất công việc với hệ số 0. Mặt khác, nghiên cứu được tiến hành bởi Organ (1988) phát hiện ra rằng sự tương quan mạnh mẽ giữa hiệu suất và sự thỏa mãn không được tìm thấy vì các định nghĩa hẹp về hiệu suất công việc. Organ (1988) tin rằng khi định nghĩa về hiệu suất công việc bao gồm những hành vi ví dụ mức độ hỗ trợ tự nguyện của một người góp phần vào sự thành công của một tổ chức thì mối quan hệ giữa sự thỏa mãn và hiệu suất sẽ được cải thiện.
Judge, Thoreson, Bono, và Patton (2001) phát hiện ra rằng sau khi điều chỉnh việc lấy mẫu và đo lường các lỗi của 301 nghiên cứu, mối tương quan giữa sự thỏa mãn công việc và hiệu suất công việc tăng lên đến 0. Điều quan trọng là mối quan hệ giữa việc làm thỏa mãn và hiệu suất công việc cao hơn đối với những công việc khó khăn hơn là những công việc ít khó khăn (Saari & Judge, 2004). Sự vắng mặt của nhân viên Một trong những chủ đề nghiên cứu rộng rãi hơn trong Tâm lý học công nghiệp là mối quan hệ giữa sự thỏa mãn công việc và nhân viên vắng mặt (Cheloha & Farr, 1980). Nếu cá nhân không thích công việc của họ sau đó họ thường nghỉ việc do bệnh, hoặc đơn giản là tìm kiếm một cơ hội mới.
Mối tương quan giữa sự thỏa mãn công việc và sự vắng mặt là 0. Khi một nhân viên đang thỏa mãn với công việc hiện tại, nhân viên đó có thể có nhiều khả năng làm việc ngay cả khi họ bị cảm lạnh. Tuy nhiên, nếu không thỏa mãn với công việc, họ sẽ có nhiều khả năng lý do bệnh để vắng mặt ngay cả khi họ có thể làm việc. Nghỉ việc của nhân viên Theo một phân tích tổng hợp 42 nghiên cứu, các mối tương quan giữa sự thỏa mãn công việc và nghỉ việc là 0.
Một yếu tố rõ ràng ảnh hưởng đến nghỉ việc sẽ là một cuộc suy thoái kinh tế, trong đó người lao động không thỏa mãn có thể không có cơ hội việc làm khác. Mặt khác, một nhân viên thỏa mãn có thể bị buộc phải từ chức vị trí của mình vì những lý do cá nhân như bệnh tật hoặc di dời. Hơn nữa, một người có nhiều khả năng tích cực tìm kiếm một công việc khác nếu họ có sự thỏa mãn thấp. Trong khi đó, một người đang thỏa mãn với công việc của họ là ít có khả năng tìm việc làm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Chỉ số mô tả công việc (JDI) do Smith, Kendall và Hullin (1969) đưa ra được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến sự thỏa mãn trong công việc (Muchinsky, 1990). Thang đo JDI bao gồm 5 nhân tố đó là: Bản chất công việc, Thăng tiến, Cấp trên, Đồng nghiệp và Tiền lương. Với thang đo JDI, Cheng-Kuang Hsu (1977) đã tiến hành nghiên cứu sự thỏa mãn trong công việc của công nhân nhà máy dệt tại Đài Loan. Kết quả bốn nhân tố (Giới tính, 123doc 8 Tuổi, Trình độ học vấn, Ý kiến của gia đình về công việc) có sự tương quan với sự thỏa mãn trong công việc và 6 nhân tố (Bản chất công việc, Chức vụ, Chính sách của công ty, Sự công nhận của công ty, Cảm giác về thời gian rãnh việc và Ý định muốn nghỉ việc) tác động rất lớn đến sự thỏa mãn trong công việc.
Boeve (2007) đã sử dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và JDI của Smith, Kendall và Hulin để nghiên cứu sự thỏa mãn trong công việc của các Giảng viên Khoa Đào tạo trợ lý bác sĩ ở các Trường Y tại Mỹ. Sự thỏa mãn trong công việc được chia thành hai nhóm nhân tố: Nhóm nhân tố nội tại bao gồm Bản chất công việc, Thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm Tiền lương, Cấp trên, Đồng nghiệp. Kết quả là các nhân tố Bản chất công việc, Đồng nghiệp, Thăng tiến có mối tương quan mạnh còn Tiền lương, Cấp trên có mối tương quan yếu với sự thỏa mãn của các Giảng viên. Tại Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) cũng sử dụng thang đo JDI của Smith và các Cộng sự để tiến hành nghiên cứu nhu cầu, sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên và mức độ gắn kết đối với tổ chức.
Ngoài 5 nhân tố Bản chất công việc, Thăng tiến, Cấp trên, Đồng nghiệp và Tiền lương tác giả đã bổ sung thêm hai nhân tố Phụ cấp và Môi trường làm việc. Kết quả cho thấy Bản chất công việc, Thăng tiến có mối tương quan mạnh nhất với sự thỏa mãn trong công việc. Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu khác liên quan đến sự thỏa mãn trong công việc như Nguyễn Trần Thanh Bình (2009) đo lường mức độ thỏa mãn trong công việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Cơ khí chế tạo máy Long An, tác giả đã sử dụng thang đo gồm 6 nhân tố: Bản chất công việc, Tiền lương, Môi trường làm việc, Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Cơ hội đào tạo thăng tiến. Châu Văn Toàn (2009) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Khối Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã sử dụng thang đo gồm các yếu tố Thu nhập, Đào tạo và thăng tiến, Cấp trên, Đồng nghiệp, Đặc điểm công việc, Điều kiện làm việc, Phúc lợi.
Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) đo lường mức độ thỏa mãn trong công việc 123doc 9 của người lao động tại Công ty Cổ phần Fresenius Kabi Bidiphar, tác giả sử dụng thang đo gồm các nhân tố: Bản chất công việc, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Lãnh đạo, Tiền lương, Môi trường làm việc, Đồng nghiệp, Đánh giá thực hiện công việc và Phúc lợi. Mặc dù những nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc tại các lĩnh vực và quốc gia khác nhau, nhưng nhìn chung tất cả đều dựa vào chỉ số mô tả công việc của Smith và các cộng sự (1969). Điều này chứng tỏ, các nhân tố trong JDI đã được kiểm chứng về mức độ tin cậy và nền tảng cho các nghiên cứu. Nghiên cứu của Trần Kim Dung về đo lường sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại Việt Nam (2005) đã được kiểm chứng vì vậy tác giả sẽ dựa trên nền tảng nghiên cứu để nghiên cứu tại Công ty.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên theo Trần Kim Dung (2005): Bản chất công việc là những vấn đề liên quan đến những thách thức của công việc, cơ hội để sử dụng các năng lực cá nhân và cảm nhận thú vị khi thực hiện công việc. Cơ hội đào tạo và thăng tiến là những vấn đề liên quan đến nhận thức của nhân viên về các cơ hội được đào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và cơ hội được thăng tiến trong tổ chức. Cấp trên là vấn đề liên quan đến các mối quan hệ giữa nhân viên và cấp trên trực tiếp, sự hỗ trợ của cấp trên, phong cách lãnh đạo và khả năng lãnh đạo thực hiện các chức năng quản trị trong tổ chức. Đồng nghiệp là những vấn đề liên quan đến các hành vi, quan hệ đồng nghiệp tại nơi làm việc.
Tiền lương là vấn đề liên quan đến cảm nhận của nhân viên về tính công bằng (bên trong và bên ngoài ) trong trả lương.