CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo BIS [21] thì “Rủi ro tín dụng là nguy cơ khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng tín dụng”. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn đối với người cho vay trong nghĩa vụ trả nợ.
Đây là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng [27]. Theo Nguyễn Văn Tiến [17, trang 39-40] cho rằng: + “Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc và lãi khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn. Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro tín dụng nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng”.
+ “Rủi ro tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ do con nợ phát hành với cam kết là sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Do đó tại thời điểm cấp tín dụng và chấp nhận giấy nhận nợ nghĩa là ngân hàng đã thừa nhận khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng với một xác suất cao, còn xác suất mất khả năng thanh toán của khách hàng là thấp hơn rất nhiều. Trường hợp người vay tiền phá sản, ngân hàng thường không thu được lợi tức cũng như lãi suất và có thể mất toàn bộ hoặc một phần vốn gốc là phụ thuộc vào khả năng ngân hàng tiếp cận đối với tài sản của con nợ trong khi giải quyết phá sản hoặc giải thể”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Từ các định nghĩa trên, rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng được hiểu đơn giản là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình như cam kết.
Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Quản trị rủi ro là quá trình được thực hiện bởi HĐQT của một tổ chức nhằm thiết lập chiến lược, xác định các rủi ro tiềm năng có thể ảnh hưởng và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được nhằm đạt các mục tiêu tổ chức [23]. Theo Nguyễn Quang Thu [1, trang 46] thì “Quản trị rủi ro là một chức năng quản trị chung để nhận ra, đánh giá và đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của tính bất định và rủi ro của tổ chức. Mục đ ch của quản trị rủi ro là cho phép tổ chức tiến đến những mục đ ch của nó bằng con đường trực tiếp, có hiệu năng và hiệu quả nhất”. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình kiểm soát tác động của các sự kiện liên quan đến rủi ro tín dụng trên cơ sở tài chính, nó bao gồm các công việc xác định, đo lường mức độ tổn thất tiềm năng và thực hiện các biện pháp thích hợp để giảm thiểu nguy cơ thiệt hại cho các tổ chức tài chính [25].
Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hóa tỉ lệ lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng bằng cách duy trì mức rủi ro tín dụng trong phạm vi chấp nhận được. Các ngân hàng cần phải quản trị rủi ro tín dụng đối với toàn bộ danh mục đầu tư cũng như từng khoản tín dụng được cấp. Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là vai trò nòng cốt cho sự thành công của ngân hàng trong dài hạn [21]. Từ các định nghĩa trên có thể hiểu quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách, biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Trong kinh doanh, việc ngân hàng đương đầu với RRTD là điều không thể tránh khỏi và việc thừa nhận tỷ lệ RRTD tự nhiên trong kinh doanh là yêu cầu khách quan, hợp lý. Theo thông lệ quốc tế, tổn thất 1% tổng ư nợ ình quân hàng năm là ngân hàng có trình độ quản lý tốt, hoàn toàn không tác động đến ngân hàng và có tỷ lệ nợ xấu ưới 3% là ở ngưỡng an toàn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng Theo BIS [21] cho rằng “việc Ủy ban giám sát ngân hàng Basel xây dựng các nguyên tắc khi xây dựng hệ thống QTRRTD đã khuyến khích ngân hàng trên toàn cầu thúc đẩy hoạt động QTRRTD của mình.
Mặc dù hoạt động QTRRTD có thể khác nhau giữa các ngân hàng, phụ thuộc vào bản chất và độ phức tạp của các hoạt động tín dụng của họ, tuy nhiên một chương trình QTRRTD toàn iện sẽ giải quyết cơ ản các nguyên tắc Basel đưa ra”. Các nguyên tắc Basel về xây dựng hệ thống QTRRTD tập trung vào 4 nội ung cơ ản sau đây: 1. Thiết lập một môi trường rủi ro tín dụng thích hợp Nội dung này yêu cầu Hội đồng quản trị của ngân hàng phải có trách nhiệm xây dựng một chiến lược xuyên suốt và các chính sách định kỳ liên quan đến RRTD trong quá trình hoạt động. Trên cơ sở đó, ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi chiến lược, phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát RRTD trong mọi hoạt động của ngân hàng ở cấp độ từng khoản tín dụng cũng như toàn ộ danh mục đầu tư [22].
Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng lành mạnh Nội dung này yêu cầu các ngân hàng cần xác định rõ các tiêu chí cấp tín dụng, thị trường mục tiêu, xây dựng các HMTD cho từng loại KH, nhóm KH để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh, theo õi được trên sổ sách kế toán. Bên cạnh đó, ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt tín dụng, thực hiện phân tách bộ máy cấp tín dụng theo chức năng án hàng, chức năng thẩm định, quản lý RRTD và chức năng quản lý nợ cũng như phân định rạch ròi trách nhiệm của các bộ phận tham gia vào hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng bảo đảm việc ra quyết định tín dụng đúng đắn công bằng. Làm được điều này, ngân hàng cần phải xây dựng được một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, đủ chuyên môn, kiến thức và nền tảng để thực hiện quyết định thận trọng trong các quyết định tín dụng. Đặc biệt là đối với các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được phê duyệt trên cơ sở ngoại lệ, cần được theo dõi cẩn thận và triển khai các ước cần thiết để kiểm soát nhằm loại trừ rủi ro [22].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp Nội dung này yêu cầu các ngân hàng cần xây dựng phát triển hệ thống đáp ứng các nguyên tắc sau nhằm duy trì sự hoạt động một cách an toàn, lành mạnh, có những biện pháp kịp thời trước khi RRTD xảy ra giúp đảm bảo các RRTD không vượt quá mức mà ngân hàng có thể chấp nhận được, cụ thể các nguyên tắc là: (1) hệ thống quản lý có cập nhật đối với các danh mục đầu tư có RRTD; (2) hệ thống thông tin để theo õi điều kiện từng khoản tín dụng trong đó có quy định rõ các tiêu chí nhằm phát hiện các khoản mục có phát sinh vấn đề; (3) hệ thống XHTD nội bộ để phân biệt mức độ RRTD trong các sản phẩm có tiềm năng rủi ro của ngân hàng; (4) hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân t ch để đo lường RRTD trong mọi hoạt động nội bảng và ngoại bảng; (5) hệ thống theo õi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư t n dụng; Bên cạnh đó, ngân hàng cần t nh đến các thay đổi trong tương lai về các điều kiện kinh tế khi đánh giá từng khoản tín dụng và danh mục đầu tư t n ụng, và phải thực hiện đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều kiện phức tạp [22]. Đảm bảo kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng Nội dung này yêu cầu các chính sách RRTD của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý và quy định rõ trách nhiệm đối với từng cá nhân khi xử lý các khoản tín dụng có vấn đề. Bên cạnh đó, hệ thống QTRRTD ngân hàng cũng cần đáp ứng các nguyên tắc cơ ản sau đây nhằm đủ dữ liệu thực hiện báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị, quản lý cấp cao ngân hàng: (1) hệ thống có đánh giá các danh mục đầu tư một cách cập nhật, độc lập với bộ phận kinh doanh; (2) hệ thống có kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện các lĩnh vực có yếu kém, các vi phạm về tiêu chuẩn, về giới hạn, về chính sách, về thủ tục; (3) hệ thống có biện pháp khắc phục sớm nhằm phát hiện và quản lý các khoản tín dụng có vấn đề.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đặc biệt, các cơ quan giám sát ngân hàng cần tiến hành đánh giá độc lập về chiến lược, chính sách, thủ tục liên quan đến việc cấp tín dụng, quản lý liên tục danh mục đầu tư của ngân hàng và thực hiện báo cáo cho Nhà quản trị rủi ro ngân hàng biết về sự yếu kém của hệ thống, sự tập trung rủi ro quá mức, việc phân loại các khoản tín dụng có vấn đề, ước tính các khoản dự phòng bổ sung và ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng [22]. Những nội dung của quản trị rủi ro tín dụng Theo BIS [21] thì “Các ngân hàng cần phải có một nhận thức sâu sắc về việc cần thiết phải xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng cũng như có những biện pháp dự phòng đầy đủ nhằm đối phó với rủi ro và chủ động trước những rủi ro phát sinh”. QTRR nói chung và QTRRTD nói riêng đều có những nội dung cơ ản trong chương trình QTRR.