phần mở đầu và phần kết luận, gồm 3 chƣơng chính là: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xăng dầu Tân Sơn Nhất Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xăng dầu Tân Sơn Nhất đến năm 2018 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm và vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm quản trị nguồn nhân lực a) Khái niệm nguồn nhân lực Trên thị trƣờng ngày nay, các doanh nghiệp đứng trƣớc thách thức buộc họ phải tăng cƣờng hiệu quả cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình nếu không muốn bị tụt hậu. Để vừa đảm bảo hoạt động ổn định, vừa liên tục thay đổi theo thị trƣờng, các doanh nghiệp phải dựa vào một nguồn lực quan trọng, đó là “nguồn nhân lực”. Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang đƣợc hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo Liên Hiệp Quốc (1994, trang 43), nguồn nhân lực là “con ngƣời với các kỹ năng và kiến thức hữu ích có đƣợc từ đầu tƣ tích lũy, đem vào sử dụng trong các môi trƣờng tổ chức hay xã hội”.
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (1997, trang 11) thì nguồn nhân lực, hay nguồn lực con ngƣời là “ngƣời lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”. Gần đây nhất, Trần Kim Dung (2013, trang 1) cho rằng “Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. Nhƣ vậy, có thể tóm lại là khái niệm nguồn nhân lực tập trung vào ba vấn đề: a) nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời; b) nguồn nhân lực nhấn mạnh vào trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức của từng cá nhân; c) việc nghiên cứu về nguồn nhân lực phải đƣợc giới hạn trong một phạm vi không gian, thời gian. Theo cách tiếp cận đó, quan điểm của Liên Hiệp Quốc chƣa đầy đủ vì chỉ tập trung vào chất lƣợng của nguồn nhân lực trên phƣơng diện kỹ năng, trình độ chứ chƣa đề cập phẩm chất, đạo đức của ngƣời lao động.
Quan điểm của Trần Kim Dung tổng quát hơn, gắn với tổ chức doanh nghiệp và có mục tiêu nhất định, nhƣng chƣa nêu rõ các tính chất cần thiết của nguồn nhân lực. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh một cách đầy đủ khái niệm nguồn nhân lực vì nó tập trung vào con ngƣời, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đề cao các yếu tố trí tuệ, tay nghề, phẩm chất trong một mốc cụ thể là nền giáo dục tiên tiến kết hợp với nền khoa học hiện đại. Tổng quát lại, khái niệm nguồn nhân lực nên đƣợc hiểu đầy đủ nhƣ sau: - Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là tổng hợp các tính chất (trí tuệ, thể lực, đạo đức, trình độ) của con ngƣời ở một quốc gia, lãnh thổ, một doanh nghiệp cụ thể. - Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực tại Việt Nam gồm một bộ phận dân số trên 15 tuổi và đủ điều kiện lao động theo quy định của Luật Lao động số 10/2012/QH13.
b) Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực là một chủ đề đƣợc nghiên cứu và tranh cãi không ngừng từ xƣa đến nay, do đó chƣa có một khái niệm chung nhất đƣợc chấp nhận. Dƣới đây là một vài định nghĩa đƣợc dùng từ những năm đầu tiên cho đến giai đoạn hiện nay để chúng ta có cái nhìn chung nhất về triết lý và hình thức sử dụng của nó. Trong giai đoạn đầu, Quản trị nhân sự chú trọng hoạt động tuyển chọn, phát triển, khen thƣởng và chỉ huy nhân viên nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Theo Flippo (1971), “quản trị nhân sự là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và quản lý các vấn đề thu hút, phát triển, trả công, phối hợp, duy trì và chia tách nguồn nhân lực để đạt đƣợc mục đích của tổ chức”; Grant và Smith (1975) cho rằng: “quản trị nhân sự là một phần đặc trƣng của quản trị, liên quan đến con ngƣời tại nơi làm việc và quan hệ của họ trong nội bộ doanh nghiệp”.
Lúc đó, ngƣời lao động đƣợc coi là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, không có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp. Áp lực nâng cao hiệu quả kinh doanh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời lao động, trong môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu và những thành tựu to lớn của khoa học kỹ thuật từ cuối những năm 1970 đã buộc các doanh nghiệp trên thế giới sử dụng quản trị nguồn nhân lực thay thế cho quản trị nhân sự. Một ví dụ điển hình cho sự đổi mới này là việc Hiệp hội quản trị nhân sự Mỹ (American Society for Personnel Administration) đổi tên thành Hiệp hội quản trị nguồn nhân lực (Society for Human Resource Management) vào năm 1989, để phản ánh sự mở rộng về quy mô, tầm nhìn cũng nhƣ những ảnh hƣởng của tổ chức đối với cộng đồng quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Graham (1978) “mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực là đảm bảo rằng nhân sự của một tổ chức đƣợc sử dụng sao cho chủ đầu tƣ có thể thu đƣợc những lợi ích cao nhất từ họ và ngƣời lao động đƣợc tƣởng thƣởng bằng vật chất lẫn tinh thần cho hiệu quả công việc họ mang lại”.
“Quản trị nguồn nhân lực là một hƣớng tiếp cận đặc trƣng của quản trị nhằm đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng chiến lƣợc phát triển một đội ngũ lao động tận tụy và có năng lực, bằng việc sử dụng một loạt các kỹ năng đa dạng về văn hóa, cấu trúc và nhân sự” (Storey, 1995). Trong khi đó, khái niệm của Trần Kim Dung (2013, trang 3) đƣa ra nhấn mạnh vào các chức năng khi cho rằng quản trị nguồn nhân lực là “hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”. Cuối cùng, Dessler (2013, trang 4) phát biểu “Quản trị nguồn nhân lực là quá trình tuyển chọn, đào tạo, đánh giá và trả lƣơng cho ngƣời lao động, và quan tâm đến các mối quan hệ nội bộ, sức khỏe, an toàn và sự công bằng”. Từ quan điểm của những tác giả trên, dù không hoàn toàn tƣơng đồng nhƣng có thể tổng hợp các vấn đề chính mà khái niệm quản trị nguồn nhân lực phản ánh gồm: a) các chức năng chính (thu hút, đào tạo, duy trì); b) các hoạt động hƣớng về con ngƣời (hoạch định, tuyển chọn, phát triển, động viên, quan hệ nội bộ); c) mục tiêu (đạt lợi thế cạnh tranh, đạt mục tiêu của tổ chức).
Quản trị nguồn nhân lực ban đầu xuất phát từ những chức năng cơ bản nhƣ trả lƣơng và phúc lợi cho ngƣời lao động. Trải qua quá trình toàn cầu hóa, hợp nhất doanh nghiệp, phát triển công nghệ và nghiên cứu hàn lâm, quản trị nguồn nhân lực ngày nay không chỉ tập trung vào các hoạt động lập kế hoạch nhân sự, tuyển dụng, đào tạo phát triển mà còn mở rộng ra theo các hƣớng mới nhƣ sáp nhập và mua lại, quản trị tài năng, kế hoạch tiếp quản, quan hệ lao động, đa dạng hóa và sự toàn diện. Để có cái nhìn đầy đủ nhất về quản trị nguồn nhân lực, tác giả đề xuất khái niệm tổng hợp của hai trƣờng phái cứng và mềm (Guest, 1987; Storey, 1992): LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Theo hƣớng quản trị mềm: Quản trị nguồn nhân lực tập trung vào con ngƣời, đề cao các hoạt động đào tạo và phát triển các kỹ năng của ngƣời lao động, nâng cao trình độ, động lực, chất lƣợng và lòng trung thành của nhân viên. - Theo hƣớng quản trị cứng: Quản trị nguồn nhân lực tập trung vào công việc và lợi ích của doanh nghiệp, nhấn mạnh vào việc sử dụng hiệu quả nhân sự để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Nhƣ vậy khi kết hợp một cách có chọn lọc cả hai trƣờng phái này, thì một nhà quản trị sẽ có cái nhìn tổng quát nhất về hoạt động quản trị nguồn nhân lực. c) Phân biệt Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực Hiện nay hai khái niệm Quản trị nhân sự (Personel Management) và Quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management) vẫn còn gây sự nhầm lẫn cho nhiều ngƣời khi tiếp cận. Trong khi những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam hay tiếp cận vấn đề theo hƣớng Quản trị nhân sự thì những nƣớc công nghiệp phát triển trên thế giới đã tiếp cận theo hƣớng Quản trị nguồn nhân lực từ những năm cuối thập niên 70.1: So sánh giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực Nội dung Quản trị nhân sự Quản trị nguồn nhân lực Là một yếu tố chi phí đầu Là tài sản quý, cần đƣợc Triết lý về nhân viên vào đầu tƣ phát triển Lợi ích quan tâm Tổ chức, doanh nghiệp Cả nhân viên lẫn tổ chức Định hƣớng hoạt động Ngắn hạn và trung hạn Dài hạn Quản trị, chất lƣợng nguồn Lợi thế cạnh tranh Quản trị và công nghệ nhân lực và công nghệ Quan hệ giữa nhân viên Hợp tác bình đẳng đôi bên Thuê mƣớn và tổ chức cùng có lợi Vật chất, thăng tiến và tính Yếu tố động viên Vật chất và thăng tiến chất công việc Quan hệ với chiến lƣợc Tách rời Gắn liền, phục vụ lẫn nhau của công ty Thái độ với sự thay đổi Chống lại Thích ứng Nguồn: Trần Kim Dung, 2003. Theo quan niệm Quản trị nhân sự, nhân sự chỉ đƣợc coi là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh và chƣa đƣợc nhìn nhận đúng với vai trò của mình.
Các vấn đề nhân sự hầu nhƣ chƣa có liên hệ chặt chẽ với chiến lƣợc của công ty. Quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 niệm Quản trị nguồn nhân lực nhấn mạnh “các chính sách có lợi cho đôi bên sẽ tạo sự cam kết nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của tổ chức và sự phát triển toàn diện của nhân viên”. Nhân viên giờ đây đƣợc xem là chìa khóa thành công của công ty, là nhân tố đầu vào đặc biệt và đòi hỏi các chiến lƣợc của công ty phải gắn chặt và xoay quanh họ.