Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý vận hành lưới điện phân phối. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối tại Công ty Điện lực Lai Châu. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối cho Công ty Điện lực Lai Châu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 1.
Khái niện về lưới điện Lưới điện: Theo khoản 3 Điều 3 Luật Điện lực số 28/2004/QH11 ngày 03-12- 2004 thì lưới điện là hệ thống đường dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện. Lưới điện truyền tải: Theo khoản 20 Điều 3 Thông tư số 32/2010/TT-BCT ngày 30-07-2010 thì lưới điện truyền tải là lưới điện bao gồm toàn bộ các đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp từ 220KV trở lên, các đường dây và trạm biến áp có điện áp 110KV mang chức năng truyền tải để tiếp nhận công suất từ các nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia. Lưới điện phân phối: Theo khoản 19 Điều 3 Thông tư số 32/2010/TT-BCT ngày 30-07-2010 thì lưới điện phân phối là phần lưới điện bao gồm các đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp từ 35KV trở xuống, các đường dây và trạm biến áp có điện áp 110KV có chức năng phân phối điện. Phân loại lưới điện Phân loại lưới điện theo cấp điện áp: Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 39/2015/TT-BCT ngày 18-11-2015 thì lưới điện theo cấp điện áp được phân thành 4 loại: - Hạ áp là cấp điện áp danh định đến 01 KV.
- Trung áp là cấp điện áp danh định trên 01 KV đến 35 KV. - Cao áp là cấp điện áp danh định trên 35 KV đến 220 KV. - Siêu cao áp là cấp điện áp danh định trên 220 KV. Phân loại lưới điện theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành: Theo khoản 3 Điều 3 Luật Điện lực số 28/2004/QH11 ngày 03-12-2004 thì lưới điện theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành được phân biệt thành 2 loại: - Lưới điện truyền tải.
- Lưới điện phân phối. Khái niệm quản lý và quản lý vận hành lưới điện Khái niệm quản lý 4 Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế, đồng thời đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.Mác đã viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" (C.Ăngghen (2002), Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác.
Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. (Đặng Ngọc Lợi (2007), Giáo trình Khoa học quản lý, Nhà xuất bản Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội) Khái niệm quản lý vận hành lưới điện Quản lý vận hành: Là tập hợp các hoạt động tạo ra giá trị được biểu hiện dưới dạng hàng hóa và dịch vụ bằng cách chuyển hóa các đầu vào thành đầu ra.
Quản lý vận hành lưới điện: Là hệ thống các hoạt động nhằm cung cấp điện một cách an toàn, liên tục cho khách hàng sử dụng điện một lượng điện năng đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp và hộ tiêu thụ. Nội dung quản lý vận hành lưới điện 1. Mục đích của công tác quản lý vận hành lưới điện - Đảm bảo chất lượng điện áp. - Đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện hợp lý cho phụ tải.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao: tổn thất công suất trong chế độ max và tổn thất điện năng thấp nhất, phối hợp với nguồn điện đảm bảo chi phí sản xuất nhỏ nhất. - Đảm bảo an toàn cao cho lưới điện trong chế độ bình thường cũng như sự cố. Các yêu cầu của công tác quản lý vận hành lưới điện Công tác quản lý vận hành lưới điện đặt ra nhiều yêu cầu không chỉ đối với khách hàng là chất lượng điện năng được cung cấp, đảm bảo thiết bị sử dụng điện năng đạt hiệu quả cao mà còn có những yêu cầu rất cụ thể của ngành điện lực nhằm xác định chất lượng điện năng. Một số yêu cầu chính: Tần số hệ thống điện: Theo Luật Điện lực của Việt Nam quy định, tần số dao động trong phạm vi ±0,2Hz so với tần số danh định 50Hz.
Trong trường hợp hệ thống điện chưa ổn định cho phép làm việc với độ lệch tần số ±0,5Hz Điều chỉnh tần số hệ thống điện quốc gia được chia làm 3 cấp: Điều chỉnh tần số cấp 1 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho hệ thống ổn định ở tần số (50 ± 0,2)Hz. Điều chỉnh tần số cấp 2 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho hệ thống trong giới hạn (50 ± 0,5)Hz. Điều chỉnh tần số cấp 3 điều chỉnh bằng sự can thiệp của kỹ sư điều hành hệ thống điện. Độ lệch điện áp: dao động trong khoảng ±5% so với điện áp danh định.
Trong trường hợp lưới điện chưa ổn định, điện áp được dao động từ +5% ÷ -10%. Các chỉ số độ tin cậy: Các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối bao gồm: + Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System Average Interruption Duration Index - SAIDI); + Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System Average Interruption Frequency Index - SAIFI); + Chỉ số về số lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối (Momentary Average Interruption Frequency Index - MAIFI). Các chỉ số về độ tin cậy của lưới điện phân phối được tính toán như sau: + SAIDI được tính bằng tổng số thời gian mất điện kéo dài trên 05 phút của Khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: n T K i i SAIDI t i 1 Kt 6 (Trích mục a khoản 2 Điều 12 Thông tư 39/2015/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 18-11-2015). 12 SAIDI y SAIDI t 1 t Trong đó: - T i: Thời gian mất điện lần thứ i trong tháng t (chỉ xét các lần mất điện có thời gian kéo dài trên 05 phút); - Ki : Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong tháng t; - n: Tổng số lần mất điện kéo dài trên 05 phút trong tháng t thuộc phạm vi cung cấp điện của Đơn vị phân phối điện; - Kt : Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong tháng t; - SAIDIt (phút): Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong tháng t; - SAIDIy (phút): Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong năm y.
+ SAIFI được tính bằng tổng số lượt khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị mất điện kéo dài trên 05 phút chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: n K i SAIFI t i 1 Kt (Trích mục b khoản 2 Điều 12 Thông tư 39/2015/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 18-11-2015). 12 SAIFI y SAIFI t 1 t Trong đó: - n: Tổng số lần mất điện kéo dài trên 05 phút trong tháng t thuộc phạm vi cung cấp điện của Đơn vị phân phối điện; - Ki : Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong tháng t; 7 - Kt : Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện trong tháng t; - SAIFIt : Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong tháng t. - SAIFIy: Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong năm y. + MAIFI được tính bằng tổng số lượt khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị mất điện thoáng qua (thời gian mất điện kéo dài từ 05 phút trở xuống) chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện và đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: n K i MAIFI t i 1 Kt (Trích mục c khoản 2 Điều 12 Thông tư 39/2015/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 18-11-2015).