CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN MẶT TRỜI I. Sự phát triển và ứng dụng công nghệ năng lượng mặt trời I. Giới thiệu các công nghệ năng lượng mặt trời a) Khái niệm về năng lượng mặt trời Năng lượng mặt trời (NLMT) được phát ra từ mặt trời là nguồn năng lượng sạch, có đặc tính “tái tạo”và có trữ lượng khổng lồ. Nó còn là nguồn gốc của các nguồn năng lượng sạch và tái tạo khác như: năng lượng gió, năng lượng sinh khối, thuỷ năng và năng lượng đại dương.
Ngoài ra, NLMT còn phân bố rộng khắp trên mặt đất. Mọi quốc gia trên thế giới đều có thể khai thác, ứng dụng nguồn tài nguyên NLTT này. Bên cạnh các ưu việt nói trên, NLMT cũng có một số nhược điểm, gây khó khăn cho việc khai thác ứng dụng. Đó là: (1) Không ổn định mà thay đổi liên tục theo thời gian và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ môi trường, cường độ chiếu sáng; (2) Mật độ NL thấp.
Mật độ NLMT trên mặt đất có giá trị cực đại chỉ khoảng 1000W/m 2. Vì vậy để có thể thu NL với công suất lớn cần rất nhiều diện tích để lắp đặt các hệ thống thu năng lượng mặt trời. Ngoài ra, hệ số công suất của các hệ thống NLMT khá thấp do thời gian có nắng hàng ngày không cao. b) Các công nghệ Năng lượng mặt trời phổ biến trên Thế giới Hiện nay, công nghệ NLMT được phân chia thành 3 loại: (1) Công nghệ quang điện (Solar Photovoltaic, PV); (2) Công nghệ NLMT hội tụ (Concentrating Solar Thermal Power, CSP) hay công nghệ nhiệt điện mặt trời; (3) Công nghệ nhiệt mặt trời nhiệt độ thấp hay còn gọi là công nghệ nhiệt mặt trời (Solar thermal heating and cooling).
Đối với công nghệ quang điện, thiết bị thu và chuyển đổi NLMT là các mô đun pin mặt trời (PMT), nó biến đổi trực tiếp NLMT thành điện năng (dòng một 13 ` chiều, DC). Nhờ các bộ biến đổi điện (Inverter) dòng điện DC được chuyển thành dòng xoay chiều, AC. Dàn PMT gồm nhiều mô đun PMT ghép nối lại, có thể có công suất từ vài chục oát (W) đến vài chục me-ga-oat (MW). Hiệu suất chuyển đổi của hệ nguồn PMT khá thấp, trong khoảng từ 12% đến 15% đối với các hệ thương mại.
Tuy nhiên, bù lại, hệ nguồn này có cấu trúc đơn giản, hoạt động tin cậy và lâu dài, công việc vận hành và bảo trì bảo dưỡng cũng đơn giản và chi phí rất thấp. Sơ đồ khối các công nghệ NLMT Đối với công nghệ nhiệt điện mặt trời, CSP thì các bộ thu NLMT là các bộ hội tụ (như máng gương parabon, bộ hội tụ Fresnel, tháp hội tụ sử dụng các gương phẳng…). Quá trình chuyển đổi NL thực hiện qua 2 bước. Đầu tiên, NLMT được hội tụ để tạo ra nguồn NL có mật độ và nhiệt độ rất cao.
Sau đó nguồn NL này làm hóa hơi nước ở áp suất và nhiệt độ cao để cấp cho tuốc bin của máy phát điện để sản xuất điện. Ở một số nhà máy CSP ở các nước Trung Đông và Tây Ban Nha người ta còn kết hợp để sản xuất điện và nước sạch từ nước biển nhờ ngưng tụ hơi nước. Thực tế cho thấy công nghệ này có hiệu suất chuyển đổi khá cao, khoảng 25%, nhưng nó chỉ 14 ` có hiệu quả ở các khu vực có mật độ NLMT cao hơn 5,5 kWh/m2/.ngày và công suất nhà máy không nhỏ hơn 5 MW. Đối với công nghệ nhiệt mặt trời nhiệt độ thấp là công nghệ thu NLMT và chuyển đổi thành nguồn NL nhiệt có nhiệt độ thấp (dưới 200 0C) dựa trên hiệu ứng nhà kính.
Công nghệ này hiện nay chủ yếu được ứng dụng dể sản xuất nước nóng (cho sinh hoạt, cho các dây chuyền sản xuất công nghiệp…). Các bộ thu và chuyển đổi NLMT trong công nghệ này là các thiết bị nước nóng NLMT (TBNNMT) hay còn gọi là Collector nhiệt mặt trời. c) Tình hình phát triển và ứng dụng các công nghệ năng lượng mặt trời trên Thế giới Trong các năm gần đây, các công nghệ NLTT, trong đó có các công nghệ NLMT có tốc độ tăng trưởng cao và liên tục. Lý do của xu hướng trên là: (1) Công nghệ ngày càng hoàn thiện, dẫn đến giá NLTT càng ngày càng giảm sâu; (2) Vấn đề an ninh năng lượng.
NLTT là nguồn năng lượng (NL) địa phương nên không phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, và do đó không phụ thuộc vào các biến đổi chính trị và các tác động khác; (3) Các nguồn NL hóa thạch đã dần cạn kiệt, trong lúc nhu cầu NL không ngừng tăng; (4) Ô nhiễm môi trường do khai thác sử dụng NL hóa thạch đã đến mức báo động, dẫn đến các hiện tượng biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Việc cắt giảm phát thải, sử dụng các nguồn NL sạch - các nguồn NLTT, vì vậy trở nên cấp bách và càng ngày càng có tính nghĩa vụ đối với các quốc gia. Đến 2013, NLTT đã chiếm tỷ lệ 22,1% trong tổng sản xuất điện năng trên toàn cầu. Nếu kể thêm cả sản xuất nhiệt thì tỷ lệ NLTT trong tổng sản xuất NL trên toàn cầu còn có tỷ lệ cao hơn nhiều.
Đặc biệt, trong các năm gần đây, giai đoạn 2008- 2013, tốc độ tăng trưởng NLTT nói chung và NLMT nói riêng đạt giá trị khá cao (bảng 1). Trừ 2 nguồn thủy điện và địa nhiệt có tốc độ dưới 4%/năm thì các nguồn NLTT khác có tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm. Ấn tượng nhất là tốc độ tăng trưởng của các công nghệ NLMT: điện PMT tăng 55%; nhiệt điện mặt trời (CSP) - 48% và nhiệt mặt trời (chủ yếu để đun nước nóng) - 14%/năm. 15 ` Giao thông vận tải Tốc độ tăng trưởng về công suất điện NLTT Nhiệt (Nhiên liệu sinh Thời (%) (%) học, %) gian Địa Thủy Điện MT Nhiệt Nhiệt SX SX NL gió nhiệt điện (PV) điện MT Mặt trời ethanol biodiesel 2008- 3,2 3,7 55 48 21 14 5,7 11 2013 2013 4 4,2 39 35 12,4 15,7 5,6 11,4 Bảng I.
Tốc độ tăng trưởng trung bình (%) công suất phát điện NLTT giai đoạn 2008-2013 và năm 2013 (nguồn REN21-2014) Tổng công suất PMT đã lắp đặt giai đoạn 2004-2013 trên thế giới (hình 2). Đến năm 2013, tổng công suất PMT toàn cầu đạt đến 139 GW. Nói riêng, công suất PMT lắp đặt của một sô nước và vùng lãnh thổ dẫn đầu như sau: Hình I. Công suất phát điện mặt trời (PMT) hàng năm trong giai đoạn 2004-2013 trên toàn cầu Một trong các nguyên nhân về sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ PMT là do giá PMT liên tục giảm sâu.3, đầu tư vào các hệ nguồn điện PMT trên toàn cầu tăng liên tục từ 2004 đến 2011, trong đó giai đoạn 2009-2011 tăng rất nhanh.
16 ` Năm 2009, tổng đầu tư chỉ hơn 40 tỷ USD, đến năm 2011 đã tăng lên 120 tỷ USD, tăng 3 lần chỉ trong 2 năm. Đầu tư (tỷ USD) và công suất điện PMT xây dựng thêm hàng năm (GW) trên toàn cầu giai đoạn 2004-2013 I. Chính sách Năng lượng mặt trời Để NLTT và NLMT có thể phát triển tốt cần phải có các chính sách NLTT thích hợp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế mỗi nước, cũng như vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Theo nghiên cứu của REN21 -2014 thì đến năm 2013 đã có 144 nước trên thế giới (khoảng 70% số nước) trong đó có có nhiều nước thuộc nhóm thu nhập thấp) đã ban hành, thực hiện chính sách hoặc các mục tiêu về NLTT.
Thị phần công suất lắp đặt thiết bị nước nóng NLMT của 10 nước dẫn đầu Thế giới. NLTT nói chung và NLMT nói riêng trên phạm vi toàn cầu phát triển liên tục với tốc độ ngày càng cao. Đặc biệt, trong những năm gần đây, các công nghệ NLMT chiếm ưu thế, trong đó, công nghệ điện PMT đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất, 55%/năm, công nghệ nhiệt mặt trời nhiệt độ thấp có tốc độ tăng trưởng trung bình 18,8%/năm. Các công nghệ NLMT đã phát triển vượt qua các công nghệ NLTT khác như điện gió, sinh khối và thủy điện.
Các nguyên nhân chính đối với sự phát triển mạnh của các công nghệ NLMT gồm: (1) NLMT là nguồn NL sạch, vô tận và phân bố khá đều khắp trên toàn cầu; (2) Giá các thiết bị công nghệ NLMT (như mô đun PMT, TBNNMT…) giảm rất nhanh; (3) Các yêu cầu về an ninh năng lượng; (4) Các yêu cầu cấp bách về bảo vệ môi trường. Sự phát triển công nghệ NLMT đã tạo ra một ngành công nghiệp mới gọi là công nghiệp NLMT, tạo ra hàng triệu công ăn việc làm (năm 2013 tạo ra gần 6,5 triệu), góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và tăng cường an ninh năng lượng ở nhiều quốc gia trên thế giới. 18 ` Một nguyên nhân quan trọng khác của sự phát triển mạnh mẽ của NLMT nói riêng và NLTT nói chung là sự quan tâm của các chính phủ trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách phù hợp. Đến 2013, đã có 70% các nước trên thế giới có chính sách NLTT và NLMT.
Đến nay điện PMT, nhiệt MT và nhiệt điện CSP đã có thể cạnh tranh với các nguồn NL truyền thống khác. Nhiều khu vực, vùng lãnh thổ trên thế giới đặt mục tiêu đến năm 2020 sử dụng 100% NLTT. Việt Nam được đánh giá là có nguồn tài nguyên NLMT vào loại tốt trên thế giới. Nguồn NL sạch và tiềm năng lớn này hoàn toàn có thể tham gia đóng góp vào cân bằng NL quốc gia.
Cho đến nay, các hoạt động nghiên cứu khai thác, ứng dụng NLMT còn rất hạn chế, trình độ thấp, qui mô nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Lý do cơ bản cho sự trì trễ đó là do chúng ta chưa có chính sách về NLTT nói chung và NLMT nói riêng. Công nghệ điện mặt trời Năng lượng bức xạ Mặt trời có thể coi như vô tận, vậy làm thế nào để thu được nguồn năng lượng này. Pin năng lượng Mặt trời hay pin mặt trời hay pin quang điện (Solar panel): bao gồm nhiều tế bào quang điện (solar cells) - là phần tử bán dẫn có chứa trên bề mặt một số lượng lớn các cảm biến ánh sáng là điốt quang, thực hiện biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng điện.
Hình ảnh tấm pin mặt trời 19 ` Với nhu cầu bùng nổ theo sự giảm giá thành đầu tư cho 1kW điện, hầu hết các nhà máy thủy điện, nhà máy nhiệt điện không thể đáp ứng đủ nhu cầu phát triển phụ tải điện, trong khi các nhà máy điện nguyên tử đã tạm dừng triển khai do lo ngại về yếu tố an toàn vận hành, tác động tiêu cực tới mơi trường và trên hết là nguồn vốn đầu tư quá lớn.