Luận án tiến sĩ về vật liệu dẫn điện trong suốt và hấp thụ ánh sáng cho pin mặt trời CZTSE

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo vật liệu dẫn điện trong suốt và hấp thụ ánh sáng cho pin mặt trời CZTSE, góp phần phát triển năng lượng tái tạo.

Chuyên ngành

Khoa học vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

127
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI CZTSe

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Pin mặt trời CZTSe

1.2.1. Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời CZTSe

1.2.2. Cấu trúc – chức năng cơ bản các lớp trong pin mặt trời CZTSe

1.2.2.1. Lớp chống phản xạ
1.2.2.2. Lớp điện cực cửa sổ
1.2.2.3. Lớp hấp thụ ánh sáng

1.3. Giản đồ năng lượng của pin mặt trời CZTSe

1.4. Vật liệu hấp thụ ánh sáng CZTSe

1.4.1. Cấu trúc tinh thể CZTSe

1.4.2. Tính chất quang – điện của vật liệu CZTSe

1.4.2.1. Độ hấp thụ ánh sáng
1.4.2.2. Độ rộng vùng cấm của vật liệu CZTSe
1.4.2.3. Sự phụ thuộc của tính chất vật liệu vào thành phần của CZTSe

1.4.3. Vật liệu CZTSe nghèo Đồng

1.4.4. Vật liệu dẫn điện trong suốt truyền qua

1.4.4.1. Tính chất quang – điện của vật liệu dẫn điện trong suốt
1.4.4.2. Điện cực dẫn điện trong suốt ứng dụng cho pin mặt trời

1.5. Giới thiệu các phương pháp chế tạo màng mỏng

1.5.1. Pin mặt trời chế tạo dựa trên điều kiện chân không

1.5.1.1. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp phún xạ
1.5.1.2. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp bốc bay
1.5.1.3. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp lắng đọng xung laser

1.5.2. Pin mặt trời chế tạo dựa trên điều kiện không chân không

1.5.2.1. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp phun phủ nhiệt
1.5.2.2. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp lắng đọng điện hóa
1.5.2.3. Pin mặt trời chế tạo dựa trên phương pháp Sol – gel
1.5.2.4. Pin mặt trời chế tạo dựa trên dung dịch chứa hạt nano

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO LỚP VẬT LIỆU DẪN ĐIỆN TRONG SUỐT

2.1. Chế tạo lớp điện cực cửa sổ ITO bằng phương pháp phún xạ

2.1.1. Hệ phún xạ sử dụng để chế tạo lớp điện cực cửa sổ ITO

2.1.2. Chế tạo màng ITO bằng phương pháp phún xạ

2.1.2.1. Màng ITO được phún xạ với nồng độ O2 khác nhau
2.1.2.2. Màng ITO được phún xạ với nhiệt độ đế khác nhau
2.1.2.3. Kết luận về chế tạo màng ITO

2.2. Chế tạo lớp điện cực cửa sổ AgNW/ITO bằng phương pháp in gạt

2.2.1. Phương pháp in gạt và quy trình chế tạo lớp điện cực cửa sổ AgNW/ITO

2.2.2. Phân tích kết quả tạo màng AgNW/ITO

2.2.2.1. Ảnh FESEM bề mặt màng AgNW/ITO
2.2.2.2. Phổ truyền qua của màng AgNW/ITO
2.2.2.3. Thử nghiệm trên pin mặt trời CZTSSe (CZTS)

2.2.3. Kết luận về màng AgNW/ITO

3. CHƯƠNG 3: TỔNG HỢP HẠT NANO Cu(Zn,Sn)Se2 CHO ỨNG DỤNG LÀM LỚP HẤP THỤ ÁNH SÁNG TRONG PIN MẶT TRỜI CZTSe

3.1. Giới thiệu tổng hợp hạt nano CZTSe

3.2. Phương pháp phun nóng

3.3. Quy trình tổng hợp hạt nano CZTSe

3.4. Phân tích kết quả tổng hợp hạt nano CZTSe

3.4.1. Tổng hợp hạt nano CZTSe ở các nhiệt độ khác nhau

3.4.1.1. Ảnh FESEM và Phổ EDX

3.4.2. Tổng hợp hạt nano CZTSe theo tỉ lệ tiền chất khác nhau

3.4.2.1. Ảnh FESEM và Phổ EDX

3.4.3. Tổng hợp hạt nano CZTSe với các tốc độ phun dung dịch Se khác nhau

3.4.3.1. Ảnh FESEM và Phổ EDX

3.4.4. Kết quả thu được trên các mẫu lặp lại

3.4.5. Kết luận về tổng hợp hạt nano

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO LỚP HẤP THỤ ÁNH SÁNG CZTSe VÀ TẾ BÀO PIN MẶT TRỜI

4.1. Nghiên cứu quá trình chế tạo màng CZTSe làm lớp hấp thụ ánh sáng trong pin mặt trời

4.1.1. Giới thiệu phương pháp nghiên cứu

4.1.2. Phương pháp in gạt chế tạo lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe

4.1.2.1. In gạt tạo màng tiền chất CZTSe
4.1.2.2. Xử lý màng CZTSe ở nhiệt độ cao tạo lớp hấp thụ ánh sáng
4.1.2.2.1. Quy trình xử lý nhiệt màng CZTSe trong môi trường khí N2
4.1.2.2.2. Xác định điều kiện xử lý nhiệt màng CZTSe trong môi trường khí N2
4.1.2.3. Kết quả chế tạo màng CZTSe
4.1.2.3.1. Màng CZTSe theo nhiệt độ
4.1.2.3.1.1. Chế tạo màng ở nhiệt độ khác nhau trong môi trường N2, không có hơi Selen
4.1.2.3.1.2. Chế tạo màng ở các nhiệt độ khác nhau trong môi trường N2, có hơi Selen
4.1.2.3.2. Màng CZTSe theo lượng hơi Se khác nhau
4.1.2.3.3. Màng CZTSe theo thời gian xử lý nhiệt khác nhau
4.1.2.3.4. Kết luận về chế tạo màng CZTSe

4.2. Nghiên cứu chế tạo pin mặt trời CZTSe hoàn chỉnh

4.2.1. Cấu trúc và phương pháp chế tạo các lớp trong pin mặt trời CZTSe hoàn chỉnh

4.2.2. Kết quả chế tạo pin mặt trời CZTSe hoàn chỉnh

4.2.3. Kết luận về chế tạo màng hấp thụ ánh sáng và pin mặt trời CZTSe

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pin mặt trời CZTSe

Pin mặt trời CZTSe là một trong những công nghệ năng lượng tái tạo hứa hẹn nhất hiện nay. Vật liệu dẫn điện trong suốt và vật liệu hấp thụ ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất quang điện của pin. Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời CZTSe dựa trên việc chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành điện năng thông qua các lớp vật liệu khác nhau. Cấu trúc của pin bao gồm lớp chống phản xạ, lớp điện cực cửa sổ và lớp hấp thụ ánh sáng. Lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt, giúp tăng cường hiệu suất quang điện. Theo nghiên cứu, hiệu suất cao nhất của pin CZTSe hiện tại đạt 12,6%, cho thấy tiềm năng lớn của công nghệ này trong tương lai.

1.1. Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời CZTSe

Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời CZTSe dựa trên hiện tượng quang điện. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào lớp hấp thụ CZTSe, các photon sẽ kích thích các electron trong vật liệu, tạo ra cặp electron-lỗ trống. Sự di chuyển của các electron này tạo ra dòng điện. Tính chất quang điện của vật liệu CZTSe rất quan trọng, vì nó quyết định khả năng hấp thụ ánh sáng và chuyển đổi thành điện năng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa cấu trúc tinh thể và thành phần hóa học của CZTSe có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của pin mặt trời.

1.2. Cấu trúc và chức năng cơ bản các lớp trong pin mặt trời CZTSe

Cấu trúc của pin mặt trời CZTSe bao gồm nhiều lớp với chức năng riêng biệt. Lớp chống phản xạ giúp giảm thiểu sự phản xạ ánh sáng, tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng của lớp CZTSe. Lớp điện cực cửa sổ, thường là vật liệu dẫn điện trong suốt, cho phép ánh sáng đi qua và đồng thời dẫn điện. Lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe là nơi diễn ra quá trình chuyển đổi năng lượng. Việc nghiên cứu và phát triển các lớp này là rất quan trọng để nâng cao hiệu suất quang điện của pin mặt trời.

II. Nghiên cứu chế tạo lớp vật liệu dẫn điện trong suốt

Lớp điện cực cửa sổ là một phần không thể thiếu trong cấu trúc của pin mặt trời CZTSe. Việc chế tạo lớp vật liệu dẫn điện trong suốt như ITO (Indium Tin Oxide) và AgNW (Silver Nanowires) đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phương pháp phún xạ và in gạt là hai phương pháp chính được sử dụng để chế tạo lớp này. Kết quả cho thấy, lớp ITO có khả năng dẫn điện tốt và độ truyền qua cao, trong khi lớp AgNW mang lại tính linh hoạt và khả năng dẫn điện tốt hơn. Sự kết hợp giữa hai loại vật liệu này có thể tạo ra lớp điện cực cửa sổ tối ưu cho pin mặt trời CZTSe.

2.1. Chế tạo lớp điện cực cửa sổ ITO bằng phương pháp phún xạ

Phương pháp phún xạ được sử dụng để chế tạo lớp ITO với nồng độ O2 khác nhau. Kết quả cho thấy, nồng độ O2 ảnh hưởng đến tính chất quang điện của lớp ITO. Màng ITO phún xạ với nồng độ O2 tối ưu cho thấy độ truyền qua cao và điện trở bề mặt thấp, điều này rất quan trọng cho hiệu suất của pin mặt trời. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho việc phát triển các lớp điện cực cửa sổ hiệu quả hơn trong tương lai.

2.2. Chế tạo lớp điện cực cửa sổ AgNW ITO bằng phương pháp in gạt

Phương pháp in gạt được áp dụng để chế tạo lớp điện cực cửa sổ AgNW/ITO. Kết quả phân tích cho thấy, lớp AgNW/ITO có khả năng dẫn điện tốt và độ truyền qua cao. Hệ số điện trở bề mặt của lớp này thấp hơn so với lớp ITO đơn thuần, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong pin mặt trời. Việc tối ưu hóa quy trình chế tạo lớp này sẽ giúp nâng cao hiệu suất quang điện của pin mặt trời CZTSe.

III. Nghiên cứu chế tạo lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe

Lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe là yếu tố quyết định hiệu suất của pin mặt trời. Việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp chế tạo lớp CZTSe có thể cải thiện đáng kể khả năng hấp thụ ánh sáng và hiệu suất quang điện. Phương pháp phun nóng và lắng đọng điện hóa là hai phương pháp chính được sử dụng để chế tạo lớp này. Kết quả cho thấy, lớp CZTSe chế tạo bằng phương pháp phun nóng có độ hấp thụ ánh sáng cao và tính ổn định tốt.

3.1. Giới thiệu tổng hợp hạt nano CZTSe

Hạt nano CZTSe được tổng hợp bằng phương pháp phun nóng, cho phép kiểm soát kích thước và hình dạng của hạt. Kết quả phân tích cho thấy, hạt nano CZTSe có cấu trúc tinh thể tốt và tính chất quang điện vượt trội. Việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp hạt nano sẽ giúp nâng cao hiệu suất của lớp hấp thụ ánh sáng trong pin mặt trời.

3.2. Nghiên cứu chế tạo màng CZTSe làm lớp hấp thụ ánh sáng

Quá trình chế tạo màng CZTSe được thực hiện thông qua phương pháp in gạt và xử lý nhiệt. Kết quả cho thấy, màng CZTSe chế tạo ở nhiệt độ tối ưu có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt và hiệu suất quang điện cao. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho việc phát triển các lớp hấp thụ ánh sáng hiệu quả hơn trong pin mặt trời CZTSe.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI CZTSe 1.1 Giới thiệu chung Pin mặt trời hoạt động dựa trên hiệu ứng quang điện, dùng để chuyển đổi trực tiếp năng lượng mặt trời thành điện năng. Năm 1946, Russell Shoemaker Ohl, nhà khoa học người Mỹ đã chế tạo thành công tế bào pin mặt trời đầu tiên từ vật liệu Si. Qua hơn 100 năm, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, rất nhiều loại vật liệu khác nhau được nghiên cứu và ứng dụng trong chế tạo các “thế hệ pin mặt trời’’. Pin mặt trời chế tạo từ các tấm Si là Thế hệ thứ nhất của pin mặt trời, bao gồm pin Si đơn tinh thể và Si đa tinh thể với hiệu suất cao nhất hiện tại là 25 ± 0,5% và 22 ± 0,4% [7].

Pin Si là loại pin phổ biến và chiếm thị phần lớn nhất (khoảng 95%) trên thị trường pin mặt trời hiện nay. Thế hệ thứ hai của pin mặt trời, được phát triển từ những năm 1980, là các loại pin màng mỏng như pin Si vô định hình, pin CIS, pin CIGS, pin CdTe, pin GaAs và pin CZTSSe [8]. Đa số các loại pin màng mỏng hiện nay có hiệu suất nằm trong khoảng từ 10% đến 22%, thấp hơn so với pin Si, ngoại trừ pin GaAs có hiệu suất cao nhất hiện nay lên tới hơn 29% [7]. Các nghiên cứu về pin mặt trời gần đây đã hướng tới Thế hệ thứ ba của pin mặt trời trong đó sử dụng nhiều loại vật liệu mới như pin mặt trời hữu cơ, pin mặt trời từ chất nhạy màu, pin mặt trời dựa trên vật liệu có cấu trúc nano và pin Perovskite, .1 Hiệu suất cao nhất hiện tại của các loại pin mặt trời (Đo dưới điều kiện 1,5 AM (1000 W/m2); 25°C (IEC 60904–3)) ([7]) Trung tâm Loại Hiệu suất, Diện tích, Voc, V Jsc, FF, % kiểm tra Ghi chú 2 2 % cm mA/cm (Ngày) Pin (silicon) UNSW p‐ a Si (crystalline) 25,0 ± 0.5 4,00 (da) 0,706 42,7 82,8 Sandia type PERC b (3/99) top/rear contacts c d 25,8 ± 0.3 0,2504 1,4932 16,31g 87,7 NREL LG (ap) (9/16) electronics, high bandgap c d GaInAsP/GaIn 32,6 ± 1,4 0,248 (ap) 2,024 19,51 82,5 NREL NREL, As (10/17) monolithic tandem Pin(chalcogeni de) CdTe (thin ‐ 22,1 ± 0.5 0,4798 0,8872 31,69h 78,5 Newport First solar on film) (da) (11/15) glass i CZTSSe (thin 12,6 ± 0.3 0,4209 0,5134 35,21 69,8 Newport IBM solution ‐ film) (ap) (7/13) grown CZTSSe (thin 12,6 ± 0.3 0,4804 0,5411 35,39 65,9 Newport DGIST, ‐ film) (da) (10/18) Korea CZTS (thin ‐ 11,0 ± 0.2 0,2339(da) 0,7306 21,74 f 69,3 NREL UNSW on film) (3/17) glass Pin khác Perovskite 23,7 ± 0,8j,k 0,0739 1,1697 25,40l 79,8 Newport (thin ‐ film) (ap) (9/18) m l Organic (thin 15,6 ± 0,2 0,4113 0,8381 25,03 74,5 NREL Sth China U.

‐ film) (da) (11/18) ‐ Central Sth U Hiện nay pin mặt trời màng mỏng đang được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ với nhiều triển vọng về giảm giá thành, tăng hiệu suất và cải thiện quá trình sản xuất trên quy mô lớn. Ưu điểm của pin màng mỏng là được chế tạo từ các vật liệu có độ hấp thụ ánh sáng cao nên kích thước pin có thể rất mỏng, chỉ từ 1 µm đến 3 µm, có thể tiết kiệm vật liệu chế tạo. Ngoài ra, pin mặt trời màng mỏng có thể dễ dàng cố định trên các loại đế khác nhau như thủy tinh, nhựa, thép không gỉ, … với trọng luan an 11 lượng nhẹ và được ứng dụng nhiều hơn khi có thể phủ trên mái và bên ngoài các tòa nhà, trên các công trình và thiết bị di động, đặc biệt trên các thiết bị vệ tinh ngoài vũ trụ,. Pin mặt trời màng mỏng được phát triển thương mại hiện nay gồm có pin Si vô định hình (hiệu suất ~ 10%), pin CdTe (hiệu suất ~ 21%) và pin CIGS (hiệu suất ~ 22%).

Tuy nhiên, gần đây các nghiên cứu về pin mặt trời màng mỏng tập trung nhiều vào pin mặt trời CZTSSe với kỳ vọng loại pin này có thể thay thế các loại pin màng mỏng trên thị trường thương mại trong tương lai do sử dụng nguồn vật liệu dồi dào, giá thành nguyên liệu thấp, hiệu suất tăng nhanh trong thời gian gần đây, phương pháp chế tạo đa dạng trong điều kiện môi trường chân không hoặc không chân không [4, 8, 9]. Pin mặt trời CZTSSe (gồm có pin CZTSe, pin CZTS và pin CZT(S,Se)) sử dụng vật liệu CZTSSe làm vật liệu hấp thụ ánh sáng. Vật liệu CZTSSe là tên viết tắt chung cho nhóm vật liệu bao gồm CZTSe, CZTS và CZT(S,Se) có công thức hóa học tương ứng Cu2ZnSnSe4 (hoặc Cu(Zn,Sn)Se2), Cu2ZnSnS4 (hoặc Cu(Zn,Sn)S2) và Cu2(Zn,Sn)(S1-xSex)4, được tạo nên từ tiền chất của Đồng, Kẽm , Thiếc, Lưu huỳnh hoặc Selen, hoặc cả Lưu huỳnh và Selen. Hợp chất này là chất bán dẫn trực tiếp có hệ số hấp thụ cao (~ 104 /cm).

Độ rộng vùng cấm của vật liệu CZTSSe nằm trong khoảng từ 1,0 eV (CZTSe) đến 1,5 eV (CZTS), phù hợp làm vật liệu tốt nhất cho quang điện (vật liệu có độ rộng vùng cấm khoảng 1,35 eV) [8]. Đặc biệt, có thể điều chỉnh được độ rộng vùng cấm bằng cách thay đổi tỉ lệ thành phần hoặc thay đổi các nguyên tố trong hợp chất, thay đổi các điều kiện và công nghệ chế tạo để thay đổi tính chất vật liệu và hiệu suất chuyển đổi quang điện của pin mặt trời [3, 10]. Vật liệu CZTSSe đầu tiên được chế tạo từ năm 1966 nhưng đến năm 1988, hiệu ứng quang điện mới được xác nhận trên vật liệu CZTSSe và pin mặt trời CZTSSe đầu tiên chế tạo bằng phương pháp lắng đọng chân không bởi nhóm nghiên cứu của Kentaro Ito, đại học Shinshu, Nagano, Nhật Bản mới được công bố [2, 11]. Sau đó một thời gian dài, pin CZTSSe gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển hiệu suất do sự tăng hạn chế của thế hở mạch VOC và sự khó khăn trong việc tổng hợp chất bán dẫn đơn pha CZTSSe.

Năm 1997, nhóm nghiên cứu của Katagiri tổng hợp được vật liệu Cu2ZnSnS4 có độ rộng vùng cấm là 1,45 eV, độ hấp thụ là luan an 12 104/cm và hiệu suất đạt được là 0,66% [12, 13]. Sau đó, trong khoảng hơn mười năm gần đây, các nghiên cứu tìm hiểu về đặc điểm cấu trúc tinh thể, cấu trúc điện tử, cấu trúc vùng năng lượng và tính chất quang điện của vật liệu CZTSSe được đẩy mạnh. Những kiến thức mới về đặc điểm của vật liệu CZTSSe giúp cho các nghiên cứu, chế tạo pin mặt trời CZTSSe tăng lên nhanh chóng với những kết quả khả quan. Đặc biệt, từ năm 2008 đã có những nghiên cứu cho hiệu suất tăng đáng kể 6,7% [14, 15].

Năm 2010, nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm IBM (Mỹ) bắt đầu có những cải tiến đột phá về hiệu suất cũng như về phương pháp chế tạo khi sử dụng phương pháp lắng đọng chân không dùng Hydrazine làm dung môi với hiệu suất đạt được là 9,66% [16, 17]. Nhóm nghiên cứu đã hòa tan tiền chất kim loại trong dung dịch hydrazin tạo thành một loại mực, sau đó quay phủ để lắng đọng tạo lớp màng trên lớp đế thủy tinh có phủ Mo. Sau đó, phương pháp này tiếp tục được cải thiện để tăng hiệu suất đến 10,1% [18]; 11,1% [19] trong năm 2012 và 12,6% trong năm 2014 [4]. Với kỹ thuật lắng đọng chân không, cũng trong năm 2012, nhóm nghiên cứu của Repins đã chế tạo thành công và công bố pin mặt trời với hiệu suất 9,15% [5] và tăng lên tới 11,6% trong năm 2015 [20].

Từ năm 2016 đến nay, các nghiên cứu về pin mặt trời với các giá trị hiệu suất khác nhau liên tục được các nhóm nghiên cứu công bố [2, 8, 21 - 24]. Tuy nhiên, hiệu suất cao nhất của pin CZTSSe đến thời điểm hiện tại vẫn là 12,6% [7], giá trị này thấp hơn nhiều so với giá trị hiệu suất lý thuyết (32%) [3].1 thể hiện ảnh SEM và các đặc tính J-V, hiệu suất EQE của pin 12,6%. luan an 13 Hình 1.1 Hình ảnh của pin mặt trời hiệu suất 12,6% chế tạo bằng phương pháp Hydrazine a) Ảnh SEM bề mặt của màng CZTSSe b) Ảnh SEM mặt cắt ngang của màng CZTSSe c) Đặc trưng JV và d) Đường hiệu suất lượng tử EQE Gần đây, một số nhóm nghiên cứu trong nước cũng bắt đầu tập trung nghiên cứu về pin mặt trời CZTSSe [2, 25]. Điều đặc biệt là các nghiên cứu này tập trung vào chế tạo lớp vật liệu hấp thụ ánh sáng của pin mặt trời CZTSSe trong điều kiện không chân không như in gạt, quay phủ, … Đây là những phương pháp mới để đáp ứng yêu cầu giảm giá thành của pin mặt trời hiện nay.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu pin mặt trời CZTSe thuộc nhóm pin mặt trời CZTSSe và chế tạo một số lớp vật liệu ứng dụng cho pin mặt trời CZTSe.2 Pin mặt trời CZTSe 1.1 Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời CZTSe Pin mặt trời chuyển đổi năng lượng của ánh sáng mặt trời thành điện năng dựa trên hiện tượng quang điện xuất hiện tại lớp tiếp xúc p – n của chất bán dẫn. Để chế tạo pin Mặt trời người ta phải tạo ra lớp tiếp xúc p - n. Tiếp xúc p – n trong pin mặt trời CZTSe được tạo ra do tiếp xúc giữa lớp hấp thụ ánh sáng CZTSe (là bán dẫn loại p) và lớp đệm CdS (là bán dẫn loại n). Khi cho bán dẫn loại p và bán dẫn loại n tiếp xúc với nhau, tại chỗ tiếp xúc p - n một ít các electron ở bán dẫn loại n chạy sang bán dẫn loại p lấp vào lỗ trống thiếu luan an 14 electron khiến cho bán dẫn loại n trở nên tích điện dương, bán dẫn loại p trở nên tích điện âm.

Kết quả là ở lớp tiếp xúc p-n có một vùng thiếu electron cũng thiếu cả lỗ trống, người ta gọi đó là vùng nghèo. Sự dịch chuyển điện tử để lấp vào lỗ trống tạo ra vùng nghèo này tạo nên một hiệu điện thế gọi là hiệu điện thế tiếp xúc p – n hay hiệu điện thế tự nhiên. Ở pin Si giá trị điện áp tiếp xúc vào khoảng 0,6 V đến 0,7 V. Khi chiếu ánh sáng mặt trời vào lớp tiếp xúc p - n, nếu photon của ánh sáng mặt trời truyền năng lượng kích thích đủ lớn sẽ khiến cho các điện tử ở vùng hóa trị nhảy lên vùng dẫn (vùng điện tử có thể chuyển động tự do), đồng thời để lại các chỗ trống vì thiếu electron và tạo ra các cặp electron - lỗ trống (gọi là exciton).

Nếu cặp electron - lỗ trống này sinh ra ở gần chỗ có tiếp p - n thì hiệu thế tiếp xúc sẽ đẩy electron về bên bán dẫn n, đẩy lỗ trống về bên bán dẫn p.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về vật liệu dẫn điện trong suốt và hấp thụ ánh sáng cho pin mặt trời CZTSe" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Duy Cường và TS. Nguyễn Hữu Dũng, được thực hiện tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển các vật liệu dẫn điện trong suốt và khả năng hấp thụ ánh sáng, nhằm nâng cao hiệu suất của pin mặt trời CZTSe. Những kết quả từ luận án không chỉ đóng góp vào lĩnh vực khoa học vật liệu mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải tiến công nghệ năng lượng tái tạo, đặc biệt là trong việc sản xuất năng lượng từ ánh sáng mặt trời.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vật liệu và công nghệ liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano có thể ứng dụng trong lĩnh vực điện tử. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride cũng là một tài liệu hữu ích, liên quan đến tính chất quang học của vật liệu, có thể hỗ trợ cho nghiên cứu về pin mặt trời. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu carbon, có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả năng lượng.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của vật liệu dẫn điện và quang học mà còn mở rộng tầm nhìn về ứng dụng của chúng trong công nghệ hiện đại.