Chương I : Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của vận tải hành khách bằng ô tô. - Chương II : Nghiên cứu, đánh giá thực trạng cạnh tranh của vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt nam hiện nay. - Chương III: Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của vận tải hành khách bằng ô tô trong xu thế hội nhập. 7 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu ở nước ngoài * Các bài viết, tạp chí ở nước ngoài liên quan đến đề tài: - Trong bài báo khoa học nhan đề Chiến lược là gì? Đăng trên tạp chí Kinh doanh của Đại học Harvard ( số ra tháng 11 – 12 năm 1996 ), Michael E.Porter đã làm rõ nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Ông cho rằng nếu doanh nghiệp chỉ tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ, tức là thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị với chgi phí thấp hơn thì chưa đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong dài hạn. Các đối thủ có thể bắt chước cách thức hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽ mất lợi thế về chi phí thấp. Vấn đề quan trọng hơn là phải có những hành động mang tính chiến lược mà ông gọi là “định vị chiến lược”.
Định vị chiến lược có nghĩa là thực hiện các hoạt động trong chuỗi giá trị theo một cách khác hoặc thực hiện những hành động khác so với các đối thủ cạnh tranh. Chính sự khác biệt đó sẽ tạo cho khách hàng nhiều giá trị hơn và họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp và thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình. Porter cho rằng lợi thế cạnh tranh không xuất phát từ một vài hoạt động đơn lẻ mà phụ thuộc và là kết quả của sự tương tác, phối hợp của các hoạt động trong chuỗi giá trị. - Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương 8 quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” - Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.
- Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới…” - Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD); “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. - Chan Kim và renee Mauborgne phát triển thành chiến lược đại dương xanh “tạo ra khoảng trống trên thị trường và vô hiệu hóa đối thủ cạnh tranh” bằng các phương pháp cụ thể sau: + Vạch lại ranh giới thị trường, khảo sát các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong ngành. + Tập trung vào bức tranh lớn chứ không tập trung vào các chi tiết cụ thể. Xem xét môi trường cạnh tranh thông qua việc đánh giá của khách hàng để biết cần chú trọng những điểm gì là quan trọng với họ.
+ Vượt trên mức nhu cầu hiện tại, không chỉ tập trung vào khách hàng hiện tại mà cần chú ý đến các khách hàng tiềm năng + Thiết lập trật tự ưu tiên về chiến lược, những cải tiến về mật công nghệ đảm bảo phù hợp vào khách hàng và tạo ra giá trị gia tăng. + Vượt qua trở ngại nội bộ tổ chức. 9 + Đưa việc điều hành chiến lược, liên kết cam kết, giải thích, kỳ vọng với sự phát triển thực tế của chiến lược. Việc thực hiện chiến lược Đại dương xanh đòi hỏi sự đồng thuận của cả nhóm.
Như vậy nếu áp dụng chiến lược này, các doanh nghiệp được bơi trong làn nước rộng, sự cạnh tranh mang tính chiến đấu mất - còn trở thành vô nghĩa và cơ hội cho nhiều doanh nghiệp chiếm được Đại dương xanh, tạo nên khoảng thị trường mới với nhu cầu mới. * Các cuốn sách, công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài: Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do những yếu tố khách quan và chủ quan đến nay nghiên cứu sinh mới tiếp cận được một số tài liệu sau: + Michael E.Porter “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Nhà xuất bản trẻ - 2009. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện đại, sức cạnh tranh không còn bị giới hạn trong những quốc gia được thừa hưởng những điều kiện thuận lợi.
Lợi thế cạnh tranh trong một nền kinh tế đòi hỏi sự chuyên môn hóa. Tác giả đã đưa ra khái niệm tổ hợp hay nhóm các doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các ngành công nghiệp liên quan và những thể chế chuyên môn hóa trong những lĩnh vực cụ thể, mở những vùng địa lý nhất định. Sự tích hợp các doanh nghiệp từ lâu đã được thừa nhận tronh các khoa học như địa lý kinh tế hay khoa học nghiên cứu vùng.Tuy nhiên hiện tượng trên chỉ được nhìn từ góc hẹp và không có sự liên hệ với cạnh tranh quốc tế, trong đó các nguồn lực đầu vào có thể tiếp cận từ nhiều vị trí và chi phí vận tải giảm đã xóa bỏ sự cần thiết phải sản xuất ở gần nguồn cung cấp hay gần những thị trường lớn. Mối liên hệ giữa sự tích hợp các doanh nghiệp và quan điểm sâu sắc về cạnh tranh và chiến lược cũng như vai trò dường như nghịch lý của nó trong thời đại mà vị trí sản xuất được coi là ít quan trọng còn chưa được khám phá.
Cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” đã cố gắng bù đắp những khoảng trống này. Nó chỉ ra tổ hợp không chỉ giảm chi phí giao dịch và nâng 10 cao hiệu quả mà còn nâng cao động lực và tạo ra những tài sản chung dưới dạng, chẳng hạn thông tin, các thể chế đặc biệt và danh tiếng. Quan trọng hơn, tổ hợp thúc đẩy sáng tạo và đẩy nhanh nâng cao năng suất. Chúng cũng tạo điều kiện cho sự hình thành các doanh nghiệp mới.
Cuốn sách đã gắn kết ý tưởng trong lý thuyết và thực tiễn. Tác giả cho rằng quá trình học tập khoa học xã hội không chỉ liên quan tới lý thuyết mà cả nỗ lực đưa lý thuyết đó vào thực tiễn. Cuốn sách ra đời vào thời kỳ cạnh tranh trở nên khốc liệt ở hầu như mọi quốc gia. Các hàng rào thương mại đã bị dỡ bỏ và các thị trường thương mại được mở cửa cho bên ngoài.
Các quốc gia đã chuyển sự tập trung của họ từ chính trị quốc tế sang nâng cao đời sống của người dân. Dù là đang nghèo đói hay giầu có, các quốc gia, các khu vực ở khắp nơi trên thế giới đều đang tìm kiếm những cách thức đối phó với cạnh tranh. Cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” cung cấp một nền tảng có hệ thống và khả thi để hiểu về sức cạnh tranh và làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh. Trong khi hiểu biết về mặt vĩ mô của sức cạnh tranh và phát triển kinh tế đã đạt nhiều tiến bộ, người ta ngày càng nhận ra rằng cải cách kinh tế vĩ mô là cần thiết nhưng chưa đủ.
Cũng quan trọng không kém, thậm chí còn quan trọng hơn là nền tảng vĩ mô của phát triển, bắt nguồn từ chiến lược của các doanh nghiệp và trong các thể chế, hạ tầng và các chính sách cấu thành môi trường trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh. Cuốn sách bổ sung vào các khoảng trống đó bằng cách tập trung vào mặt vi mô của sức cạnh tranh. Nó trả lời câu hỏi: Sẽ làm gì tiếp theo? Làm gì sau quá trình điều chỉnh và ổn định vĩ mô. Cuốn sách thu hẹp khoảng cách giữa doanh nghiệp và chính phủ trong việc giải quyết vấn đề sức cạnh tranh, bằng cách áp dụng cách tiếp cận mạch lạc, đa chiều đối với cạnh tranh, đã cung cấp nhiều ý tưởng và ví dụ thuyết phục với các công ty.
Chính phủ không nên can thiệp vào quá trình cạnh tranh mà vai trò của nó là cải thiện môi trường nhằm nâng cao năng suất, chẳng hạn 11 bằng cách nâng cao chất lượng và hiệu suất của đầu vào sản xuất, của cơ sở hạ tầng và hoạch định các chính sách và khung luật pháp thúc đẩy cải tiến và đổi mới. + Có một số các mô hình phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài ( cơ hội, nguy cơ ) cũng như các yếu tố thuộc môi trường bên trong ( điểm mạnh, yếu ) trong đó có m« h×nh ph©n tÝch SWOT: SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cỏi đầu tiờn của cỏc từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ). Đây là công cụ hữu ích để tìm hiểu nhiều vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh. Có thể coi SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, có thể xây dựng chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp.
Phân tích SWOT là phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài mà ngành phải đối mặt (các cơ hội, nguy cơ) cũng như các yếu tố thuộc môi trường nội bộ ngành (điểm mạnh, điểm yếu).