Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong TMQT Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng hóa mỹ phẩm nhập khẩu của công ty TNHH THAIPRO Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng hóa mỹ phẩm nhập khẩu của công ty TNHH THAIPRO 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 2.1 Khái niệm về cạnh tranh: “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản và cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau. Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác.
Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng nào. Như vậy, có thể hiểu “cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế”. Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, K.Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Kinh tế học của P.Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.
Từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình định giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”, tức là nâng cao vị thế của người này và giảm vị thế của người khác. Trên quy mô xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Và từ đó, cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích nghi được với các điều kiện thị trường, dẫn đến quá trình tập trung hóa trong từng ngành, vùng, quốc gia,.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét theo hướng tiếp cận của đề tài này, tác giả xin tổng hợp thành khái niệm “cạnh tranh” như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữ các chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận cao.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó hoặc một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là “năng lực cạnh tranh” của chủ thể đó. Khi muốn chỉ sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường (hàng hóa này phải thuộc một doanh nghiệp nào đó, một quốc gia nào đó) thì người ta cũng dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa” hoặc “năng lực cạnh tranh của hàng hóa”. đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng.
Như vậy, hiện nay có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ năng lực cạnh tranh. Khái niệm “năng lực cạnh tranh” được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “ DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN”.
Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “ Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh”(1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa; “Đối với DN, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng như cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các DN khác”. Diễn đào cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của DN với năng lực kinh doanh. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của DN phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự(2004) chỉ ra : đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình. Từ những cách hiểu trên, với tiêu chí phù hợp với đề tài, tác giả xin đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của DN như sau: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế 2.
Tích cực Đối với doanh nghiệp Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực kỳ to lớn. Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành. Đối với người tiêu dùng Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội. Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò sau: Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn. Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế Cạnh tranh được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau: Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh. Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế.
Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài, có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta.2 Tiêu cực Bên cạnh những lợi ích tích cực, cạnh tranh cũng tạo ra những tiêu cực. Việc cạnh tranh để chạy theo lợi nhuận, nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, vừa là động lực tăng trưởng kinh tế, vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng. Sự đào thải không khoan nhượng những DN kinh doanh không hiệu quả, gây ra những hậu quả về kinh tế xã hội to lớn như nạn thất nghiệp ra tăng, mất ổn định xã hội. Trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể sử dụng mọi biện pháp để giành chiến thắng trên thị trường.
Điều đó gây ra các hoạt động xấu, ảnh hưởng đến chính người tiêu dùng và nền kinh tế như: gian lận, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, quảng cáo lừa dối khách hàng,. làm cho nền kinh tế phát triển thao chiều hướng không tốt. Các loại hình cạnh tranh Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được chia ra làm nhiều loại dưới đây 2. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất.
Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần.