chương 1 đến chương 24 ( trừ các sản phẩm thuỷ sản trong chương 3 và chương 16 trong biểu thuế hài hoà - xem phụ lục các sản phẩm nông sản trong biểu thức hài hoà) là các sản phẩm nông sản. Các sản phẩm này thường là những nhóm mặt hàng sau: các mặt hàng ngũ cốc; các mặt hàng cho chăn nuôi; các sản phẩm từ ngũ cốc như bánh mỳ và mì ống; Các sản phẩm chăn nuôi bao gồm động vậ sống, thịt, da động vật chưa thuộc, trứng. Các sản phẩm trồng trọt bao gồm hoa quả tươi, hoa quả chế biến, rau, quả rừa cũng như các sản phẩm từ vườn ươm và bia rượu, thuốc lá chưa chế biến; các sản phẩm nhiệt đới như đường, càc phê, ca cao. Một số các sản phẩm khác ngoài các chương từ 1 đến 24 cũng được coi là cá sản phẩm nông nghiệp bao gồm các sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu(chương 13), cao su thô sơ (chương 40), da thú sơ(chương41), len và bông(chương 51-52)4 Một số sản phẩm được sản xuất từ cây trồng và động vật nhưng không được coi là hàng nông sản bao gồm: sản phẩm sợi cotton, sợi chỉ, vải, sợi dệt và quần áo, da và các sản phẩm trang trí làm bằng da, thuốc lá điếu, xì gà, rượu mạnh.
Tuy nhiên những sản phẩm này vẫn được đưa vào cơ3 Defition sở dữof liệu thương mại của USDA bên cạnh nững sản phẩm được sử Agricutual Products of USDA dụng trong sản xuất nông nghiệp như hoá2 chất nông nghiệp, phân bón, máy móc nông nghiệp. Các sản phẩm nuôi trồng, đánh bắt là những mặt hàng phi nông nghiệp vì giá trị thực phẩm của nó có những khác biệt căn bản so với những sản phẩm nông sản nêu trên và trên thực tế các sản phẩm này được FAS ( cơ quan hải quan ngoại) hợp tác với nghành công nghiệp để đẩy mạnh xuất khẩu. Các sản phẩm gỗ rắn cũng là các sản phẩm phi nông nghiệp bởi vì FAS hợp tác với ngành công nghiệp Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu. Qua các định nghĩa hàng nông sản (Agricultural product) trên ta thấy mỗi nước và tổ chức có các định nghĩa riêng của mình về hàng nông sản, có thể thấy quan điểm về hàng nông sản của Mỹ rộng hơn so với quan điểm của chúng ta rất nhiều.
Nếu như ở Việt Nam các mặt hàng như bánh kẹo, rượu bia chưa được xếp vào các mặt hàng công nghiệp nhẹ thì theo quan điểm của Mỹ đây lại là các mặt hàng nông sản. Nghiên cứu khái niệm nông sản của Mỹ là việc làm cần thiết cho phép các nhà xuất khẩu Việt Nam biết được nhóm hàng, mặt hàng nào được xếp vào hàng nông sản để có thể xác định được mức thuế và yêu cầu đối với hàng nông sản của Mỹ khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Việc hiểu rõ khái niệm nông sản của Mỹ cũng là tiền đề quan trọng giúp chúng ta nghiên cứu tốt hơn các đặc điểm của thị trường nông sản Mỹ như phần trình bày ở mục II dưới đây.Đặc điểm chung về thị trường nông sản của Mỹ. Mỹ - một thị trường lớn đầy tiềm năng cho hàng nông sản và thực phẩm thế giới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Nhận định khái quát về quy mô thị trường. Với dân số khoảng 280 triệu người, tổng thu nhập GDP hàng năm đạt 10.000 tỷ USD, thu nhập GDP bình quân đầu người là 29.270USD, kim ngạch nhập khẩu năm 2000 là 1200 tỷ USD có thể nói Mỹ là một khách hàng khổng lồ của thế giới. Chỉ xét riêng đối với mặt hàng nông sản, hàng năm người Mỹ chi khoảng 715 tỷ USD cho tiêu dùng thực phẩm và 95 tỷ USD để tiêu dùng các đồ uống có cồn. Nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản của Mỹ đạt trung bình 40 tỷ USD/năm.
4 Mặc dù là nước xuất khẩu hàng nông sản hàng đầu Mỹ đồng thời Phụ lục 1 cũng là một trong số các nước đứng đầu 3 thế giới về nhập khẩu hàng nông sản. Năm 1998, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản kim ngạch đạt 51,7 tỷ USD và nhập khẩu là 36,7 tỷ USD.Năm 1999 Mỹ nhập khẩu 37,673 tỷ USD và con số này của năm 2001 là 39,366 tỷ USD hàng nông sản. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng năm là 10%. Trong ba nhóm hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ nhóm hàng nông sản thô chiếm kim ngạch nhập khẩu lớn nhất và ngày càng giảm.
Năm 1998 kim ngạch nhập khẩu hàng nông sản thô đạt 7,3 tỷ USD nhưng đến năm 2001 kim nghạch nhập khẩu mặt hàng này giảm khoảng 34,5% so với năm 1998.Tốc độ nhập khẩu trung bình đối với mặt hàng nông sản thô giảm 12%/năm. Những mặt hàng nông sản thô mà Mỹ nhập khẩu nhiều nhất là cà phê thô 1,176 tỷ USD (năm2001), cao su 852 triệu USD (năm 2000), thuốc lá 675 triệu USD ( năm 2001), đường thô từ củ cải và mía 480 triệu USD (năm2001). KIM NGẠCH NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN NĂM 1998 ĐẠT 7,147 TỶ USD NHƯNG ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH CHỈ ĐẠT 7,019 TỶ USD GIẢM 1,8% SO VỚI NĂM 1998.TUY NHIÊN TÍNH TRUNG BÌNH CHO CẢ GIAI ĐOẠN 1998- 2001 THÌ KIM NGẠCH NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN VẪN TĂNG 0,8%.CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN SƠ CHẾ VÀ CHẾ BIẾN CÓ NHU CẦU NHẬP KHẨU CAO LÀ ĐỘNG VẬT SỐNG: 2,269 TỶ USD, DẦU THỰC VẬT ĐẠT 837 TRIỆU USD, VÀ CÁC LOẠI HẠT TRỒNG ĐẠT 418 TRIỆU USD NĂM 2001. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TRONG KHI KIM NGẠCH CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN THÔ GIẢM MẠNH CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN TĂNG NHẸ THÌ KIM NGẠCH CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TIÊU DÙNG TĂNG MẠNH.
NĂM 1998, KIM NGẠCH NHẬP KHẨU NHÓM MẶT HÀNG NÀY CỦA MỸ LÀ 22,43 TỶ USD NHƯNG ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU ĐẠT 27,56 TỶ USD TĂNG 23% NHU CẦU NHẬP KHẨU HÀNG NĂM ĐỐI VỚI NHÓM MẶT HÀNG NÀY TĂNG 5,6%. CÁC MẶT HÀNG CÓ NHU CẦU NHẬP KHẨU LỚN NHẤT TRONG NHÓM NÀY LÀ THỊT 3,309 TỶ USD NĂM 2001; RAU QUẢ CHẾ BIẾN, RAU SẠCH (BAO GỒM RAU QUẢ KHÔ VÀ ĐÓNG HỘP) 2,448 TỶ USD; RƯỢU BIA, ĐỒ ĂN NHẸ, GIA VỊ. NHU CẦU NHẬP KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHÍNH CỦA MỸ5. NHU CẦU NHẬP KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN 4 THÔ.
MẶT HÀNG CÀ PHÊ THÔ. HIỆN NAY MỸ LÀ NƯỚC ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI VÀ NHU CẦU NHẬP KHẨU CÀ PHÊ. NĂM 1999 KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU CÀ PHÊ CỦA THỊ TRƯỜNG NÀY ĐẠT 2,282 TỶ USD THÌ ĐẾN NĂM 2000 CON SỐ ĐỐ ĐÃ TĂNG 37,3% TỨC ĐẠT KHOẢNG 3,133 TỶ USD. TUY NHIÊN, ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CÀ PHÊ GIẢM XUỐNG CHỈ CÒN 1,171 TỶ USD DO MỸ ĐƯỢC MÙA SẢN XUẤT CÀ PHÊ.
BA NƯỚC ĐỨNG ĐẦU TRONG DANH SÁCH CÁC NƯỚC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VÀO MỸ LÀ COLOMBIA, BRAZIN, VÀ MEHICÔ. TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY NHU CẦU NHẬP KHẨU CÀ PHÊ THÔ TIẾP TỤC GIẢM THAY VÀO ĐÓ NHU CẦU ĐỐI VỚI CÀ PHÊ ĐÃ QUA CHẾ BIẾN TĂNG LÊN. THEO CHIẾN LƯỢC NHẬP KHẨU CỦA USDA GIAI ĐOẠN 2000-2005 KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU CÀ PHÊ NÓI CHUNG CỦA MỸ SẼ GIẢM 12%/NĂM. CÁC SẢN PHẨM CAO SU.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU CAO SU CỦA THỊ TRƯỜNG MỸ NĂM 1999 LÀ 716 TRIỆU USD, NĂM 2000 ĐẠT 852 TRIỆU USD, TĂNG GẦN 19%. TUY NHIÊN KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU NĂM 2001 LẠI GIẢM 27,1%. HIỆN NAY, NHU CẦU TIÊU THỤ CÁC SẢN PHẨM XE HƠI GIẢM XUỐNG VÀ XĂM LỐP CŨNG GIẢM. ĐÂY LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT CAO SU HẠN CHẾ NHẬP NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT.
THEO CHIẾN LƯỢC NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2000-2005 CỦA USDA THÌ NHU CẦU NHẬP KHẨU CAO SU TIẾP TỤC GIẢM 11%NĂM. CÁC NƯỚC XUẤT KHẨU CAO SU LỚN NHẤT VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ LÀ THÁI LAN VÀ INĐÔNÊXIA. NHU CẦU NHẬP KHẨU ĐƯỜNG THÔ Theo các số liệu thống kê gần đây cho thấy nhu cầu nhập khẩu đường thô của Mỹ có xu hướng giảm dần và trong các năm tới sẽ tiếp tục giảm mặc dù trong ba năm gần đây do nhu cầu cho ngành chế biến đồ ăn nhẹ và nguội ở Mỹ tăng lên. Năm 2000 kim ngạch nhập khẩu đường thô của Mỹ đạt 471,2 triệu USD, năm 2001 tăng lên 480 triệu và năm 2002 đạt 487,6 triệu USD.Những nước xuất khẩu đường thô vào Mỹ lớn nhất là Trung Quốc, Mêhicô và Australia.
Theo dự báo của USDA thì từ nay cho đến năm 2005 nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này vẫn sẽ giảm khoảng 18%/năm. NHU CẦU NHẬP KHẨU CHÈ Hàng năm kim ngạch nhập khẩu chè của Mỹ đạt 224 triệu USD và bình 5 quân tăng với tốc độ 4%/năm. Những nước xuất khẩu chè chủ yếu vào Tổng hợp từ US census bureau trade 5 datalà Canada(trung bình 50triệu USD/năm ), Achentina( 32triệu /năm), và Mỹ Ấn Độ (23triệu USD/năm). Do nhu cầu tiêu dùng đối với mặt hàng này vẫn còn tiếp tục tăng lên nên theo dự báo của USDA nhu cầu nhập khẩu chè của Mỹ trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 4%/năm.2 Nhu cầu nhập khẩu đối với các mặt hàng nông sản trung gian Nhu cầu nhập khẩu đối với mặt hàng dầu thực vật Hiện nay do xu hướng ăn kiêng và ăn ít các chất có hàm lượng cholesterol cao nên nhu cầu tiêu dùng của người Mỹ đối với các mặt hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này tăng mạnh, tốc độ tăng trung bình là 7,6%/năm.
Chính vì vậy mà từ năm 2000 trở lại đây và theo dự báo của USDA thì cho đến năm 2005 nhu cầu nhập khẩu đối với các mặt hàng này vẫn tiếp tục tăng ở mức 10%/năm.Chilê và Thái Lan là hai nước đứng đầu trong danh sách các xuất khẩu các mặt hàng dầu thực vật vào thị trường Mỹ. Nhu cầu nhập khẩu hạt giống Với chủ trương nhập khẩu hạt giống tốt để tăng nhanh năng xuất cây trồng, giảm chi phí nghiên cứu giống mới, tiếp tục nâng cao chất lượng giống mới dựa trên giống ngoại nhập mà trong những năm vừa qua nhu cầu nhập khẩu giống của Mỹ tiếp tục tăng : năm 1998-1999 tốc độ tăng trung bình là 7,6%, năm 2000 là 6,14%, năm 2001-2002 là 5,3%. Trong giai đoạn từ 2003 trở về sau theo USDA thì nhu cầu nhập khẩu giống vẫn sẽ tăng song tốc độ tăng giảm dần, trung bình đạt khoảng 0,8%/năm. Những nước xuất khẩu hạt giống lớn nhất vào thị trường Mỹ là Ấn Độ, Inđônesia, Thái Lan và Canada.
Nhu cầu nhập khẩu bột Cacao nhão và bơ cacao Trong những năm gần đây nhu cầu nhập khẩu Cacao phục vụ cho ngành sản xuất chế biến đồ ăn nhẹ đã giảm, do vậy theo dự báo nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng này trong thời gian tới sẽ giảm khoảng 2%/năm.