Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

85
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái quát về cạnh tranh trong kinh tế thị trường

1.2. Khái niệm cạnh tranh

1.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh

1.4. Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.4.1. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.4.2. Khái niệm cạnh tranh ngân hàng

1.4.3. Đặc điểm của cạnh tranh ngân hàng thương mại

1.4.4. Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.4.4.1. Năng lực quản lý điều hành
1.4.4.2. Năng lực tài chính
1.4.4.3. Tính đa dạng, chất lượng và giá cả các sản phẩm dịch vụ
1.4.4.4. Trình độ ứng dụng công nghệ
1.4.4.5. Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
1.4.4.6. Mạng lưới hoạt động
1.4.4.7. Sự phù hợp của các chiến lược
1.4.4.8. Khả năng kiểm soát rủi ro

1.4.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.4.5.1. Môi trường kinh doanh
1.4.5.2. Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng
1.4.5.3. Trình độ phát triển của thị trường tài chính và thị trường các sản phẩm thay thế
1.4.5.4. Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật

1.4.6. Ứng dụng phân tích kỹ thuật SWOT đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

1.4.7. Kinh nghiệm của các nước sau khi gia nhập WTO

1.4.7.1. Kinh nghiệm Trung Quốc
1.4.7.1.1. Chiến lược phát triển hệ thống NHTM của Chính phủ Trung Quốc
1.4.7.1.2. Chiến lược “xi măng và con chuột” của các ngân hàng thương mại Trung Quốc
1.4.7.2. Kinh nghiệm Hàn Quốc
1.4.7.2.1. Quá trình đổi mới và hòa nhập của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc
1.4.7.2.2. Những thành công và hạn chế trong quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc
1.4.7.2.3. Những bài học cho Việt Nam về tăng cường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập
1.4.7.2.3.1. Về phía Chính phủ
1.4.7.2.3.2. Về phía các ngân hàng thương mại

1.4.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

2.1. Giới thiệu khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2. Lĩnh vực hoạt động và Sản phẩm, dịch vụ của Eximbank

2.1.3. Hệ thống công nghệ thông tin

2.1.4. Bộ máy tổ chức và hoạt động

2.1.5. Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2009 đến 2012

2.2. So sánh một số chỉ tiêu giữa ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam và các ngân hàng thương mại cổ phần khác

2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam

2.3.1. Những yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh

2.3.1.1. Về quản trị điều hành
2.3.1.2. Nguồn lực tài chính
2.3.1.3. Tính đa dạng, chất lượng và giá cả các sản phẩm dịch vụ
2.3.1.4. Yếu tố công nghệ
2.3.1.5. Cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự và cơ chế vận hành
2.3.1.6. Mạng lưới chi nhánh
2.3.1.7. Sự phù hợp của các chiến lược
2.3.1.8. Khả năng kiểm soát rủi ro

2.3.2. Những khó khăn thách thức phát sinh từ quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh

2.3.2.1. Những khó khăn hiện tại
2.3.2.2. Về cơ chế điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.3.2.3. Khó khăn về tổ chức bộ máy
2.3.2.4. Khó khăn về văn hóa
2.3.2.5. Khó khăn về trình độ nhận thức của các cấp nhân viên thực thi chiến lược

2.3.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam bằng mô hình SWOT

2.3.4. Thách thức

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

3.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

3.1.1. Mục tiêu phát triển

3.1.2. Định hướng phát triển đến năm 2020

3.2. Giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

3.2.1. Nâng cao năng lực quản trị điều hành

3.2.2. Tăng cường sức mạnh tài chính

3.2.3. Đề xuất về sản phẩm dịch vụ

3.2.4. Về ứng dụng công nghệ

3.2.5. Về phát triển nguồn nhân lực

3.2.6. Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối

3.2.7. Đề xuất khách hàng toàn diện

3.3. Kiến nghị đối với chính phủ và các bộ ngành có liên quan

3.3.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam

3.3.1.1. Nghiên cứu, trình chính phủ ban hành quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
3.3.1.2. Tăng cường hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng ở khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Eximbank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để tồn tại và phát triển, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều cần thiết. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp Eximbank cải thiện vị thế trên thị trường mà còn tạo ra giá trị bền vững cho khách hàng.

1.1. Tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh trong ngân hàng

Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng trong môi trường kinh doanh hiện đại. Đối với Eximbank, việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp thu hút khách hàng mà còn gia tăng lợi nhuận và củng cố thương hiệu.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Eximbank

Năng lực cạnh tranh của Eximbank bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chất lượng dịch vụ, công nghệ, nguồn nhân lực và chiến lược marketing. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp ngân hàng xác định được điểm mạnh và điểm yếu của mình.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Eximbank

Eximbank đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Những thách thức này không chỉ đến từ nội bộ mà còn từ môi trường bên ngoài. Việc nhận diện và giải quyết các thách thức này là rất quan trọng.

2.1. Cạnh tranh từ các ngân hàng khác

Sự gia tăng số lượng ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Eximbank cần có những chiến lược phù hợp để giữ vững thị phần và thu hút khách hàng.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu của khách hàng

Khách hàng ngày càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ và sản phẩm. Eximbank cần phải nắm bắt xu hướng này để điều chỉnh các sản phẩm và dịch vụ của mình cho phù hợp.

III. Giải pháp tài chính cho ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

Giải pháp tài chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp Eximbank nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc tối ưu hóa nguồn vốn và quản lý tài chính hiệu quả sẽ giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn.

3.1. Tăng cường quản lý rủi ro tài chính

Quản lý rủi ro tài chính là một trong những yếu tố then chốt giúp Eximbank duy trì sự ổn định và phát triển bền vững. Ngân hàng cần xây dựng hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại.

3.2. Đầu tư vào công nghệ tài chính

Công nghệ tài chính (Fintech) đang trở thành xu hướng trong ngành ngân hàng. Eximbank cần đầu tư vào công nghệ để cải thiện quy trình phục vụ khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

IV. Phát triển nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh

Nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất của Eximbank. Việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực cho nhân viên.

4.1. Đào tạo và phát triển nhân viên

Đào tạo và phát triển nhân viên là một trong những giải pháp quan trọng giúp Eximbank nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngân hàng cần xây dựng chương trình đào tạo bài bản để nâng cao kỹ năng cho nhân viên.

4.2. Tạo động lực làm việc cho nhân viên

Tạo động lực làm việc cho nhân viên là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu suất làm việc. Eximbank cần có các chính sách đãi ngộ hợp lý để giữ chân nhân tài.

V. Ứng dụng công nghệ trong nâng cao năng lực cạnh tranh của Eximbank

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Eximbank. Việc ứng dụng công nghệ mới sẽ giúp ngân hàng cải thiện quy trình làm việc và nâng cao chất lượng dịch vụ.

5.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý

Công nghệ thông tin giúp Eximbank quản lý dữ liệu khách hàng hiệu quả hơn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

5.2. Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử

Dịch vụ ngân hàng điện tử đang trở thành xu hướng trong ngành ngân hàng. Eximbank cần phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

VI. Kết luận và định hướng tương lai cho Eximbank

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một quá trình liên tục và cần sự nỗ lực từ nhiều phía. Eximbank cần có những chiến lược rõ ràng và cụ thể để thực hiện mục tiêu này trong tương lai.

6.1. Định hướng phát triển bền vững

Eximbank cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng.

6.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế sẽ giúp Eximbank mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngân hàng cần tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về cạnh tranh trong kinh tế thị trường: 1.Khái niệm cạnh tranh: Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, thể thao, …; cũng như thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, các phương tiện thông tin đại chúng và thuật ngữ này được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh các cá nhân, các nhóm, loài chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài khác vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.

Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có quan điểm cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Paul Anthony Samuelson và William Nordhaus lại cho rằng, cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần. Michael Porter thì cho rằng, cạnh tranh là giành lấy thị phần.

Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có, kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các quan điểm trên, cạnh tranh trong kinh tế thị trường là sự đối đầu giữa các chủ thể tham gia thị trường để giành những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa nhằm thu lại nhiều lợi ích nhất cho chính họ. Khái niệm năng lực cạnh tranh: Cũng như cạnh tranh, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm; và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh. Quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt.

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà còn đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường.

Có quan điểm khác cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Có quan điểm lại gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình thì chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc làm thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, có thể đúc kết lại rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường. Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn so với các đối thủ về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược.

Năng lực cạnh tranh cũng thể hiện thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh. Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại: 1.1 Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng: 1.1 Khái niệm cạnh tranh ngân hàng: Giống như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn hướng tới việc giành lấy những yếu tố thuận lợi nhất trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị phần để tối ưu hóa lợi nhuận kiếm được. Cho nên, cạnh tranh ngân hàng cũng là sự đối đầu giữa các ngân hàng để giành giật khách hàng, giành giật những điều kiện thuận lợi nhất cho họ trong việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ đặc biệt, có chất lượng cao, có sự khác biệt tương đối so với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh trên thị trường nhằm thu lại nhiều lợi ích nhất.Đặc điểm của cạnh tranh ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại (NHTM) trong hoạt động kinh doanh của mình, luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với đối thủ với mục tiêu là giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng và cung ứng dịch vụ. Do ngành nghề kinh doanh 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khá đặc thù, nên cạnh tranh giữa các NHTM cũng có những nét đặc trưng rất riêng biệt.

Có thể nhận thấy là: - Thứ nhất, cạnh tranh và hợp tác xen lẫn nhau để hướng đến một thị trường lành mạnh: các NHTM thường giao dịch với nhau thông qua các khoản tiền gửi ngắn hạn hoặc tài khoản vãng lai thanh toán để đáp ứng các yêu cầu kinh doanh. Vì thế, nếu như có một NHTM trong quá trình kinh doanh gặp khó khăn và đối mặt với nguy cơ phá sản, sẽ tác động dây chuyền đến cả hệ thống các NHTM, thậm chí còn ảnh hưởng đến cả các tổ chức phi tài chính; lẽ dĩ nhiên, không một NHTM nào muốn điều đó xảy ra. Do đó, các NHTM một mặt luôn luôn cạnh tranh gay gắt với nhau để giành giật khách hàng, giành giật thị phần; mặt khác lại luôn phải hợp tác với nhau, cùng nhau tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn để tránh rủi ro hệ thống. - Thứ hai, cạnh tranh được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Trung ương: hoạt động của các NHTM ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, sự mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống, kéo theo hệ lụy là gây thiệt hại nặng nề cho cả nền kinh tế quốc gia.

Bởi vậy, Ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) sẽ giám sát hết sức chặt chẽ hoạt động của các NHTM trên thị trường và liên tục có những cảnh báo khi có dấu hiệu của những diễn biến bất lợi để phòng ngừa rủi ro. Dưới sự giám sát và cảnh báo này, sự cạnh tranh giữa các NHTM sẽ khó có thể làm cho một bộ phận trong hệ thống suy yếu đi và dẫn đếp sụp đổ như trong các lĩnh vực kinh doanh khác. - Thứ ba, cạnh tranh công nghệ cao và nằm trong sự ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế: do là các trung gian tài chính, nên hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ tạo ra các “ống dẫn” cho quá trình lưu chuyển tiền tệ nội địa và quốc tế và cũng vì vậy, họ phải chịu sự chi phối của rất nhiều tác nhân trong nước cũng như quốc tế trong quá trình hoạt động, điển hình là tập tục kinh doanh của từng quốc gia, các thông lệ quốc tế, cơ sở hạ tầng công nghệ, …. Diễn biến phức tạp của thị trường tài chính quốc tế cũng làm cho các NHTM phải liên tục thay đổi phương pháp sử dụng trong cạnh tranh.

Như vậy, cạnh tranh giữa các NHTM đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ cạnh tranh trong lĩnh vực nào của nền kinh tế. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ tư, cạnh tranh chịu sự tác động trực tiếp từ chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: nguồn vốn kinh doanh của các NHTM chủ yếu là vốn huy động từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế - xã hội, vốn tự có chỉ là thứ yếu và hầu hết được dùng để trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Kết hợp với việc chính sách tiền tệ thường được Nhà nước sử dụng để điều tiết ở tầm vĩ mô, thì quá trình các NHTM cạnh tranh với nhau còn chịu sự chi phối vô cùng lớn từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương ở từng giai đoạn, chịu sự chi phối lớn nhất là trong cạnh tranh về huy động vốn và cho vay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ