CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh có thể coi là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Trong nền kinh tế thị trường ,cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau thì sẽ có các quan điểm về cạnh tranh khác nhau.
Trong Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) có viết : “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.” Theo định ngĩa này, cạnh tranh nhằm mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách tạo ra sự ganh đua, giành điều kiên thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh. Theo Michael Porter (2005) thì : “Cạnh tranh, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các DN. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là DN phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.” Định nghĩa này cho thấy cạnh tranh mang tính chất lành mạnh ,nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng ngày một tốt hơn và gia tăng thị phần, và là một cuộc tranh tài giữa các doanh nghiệp , kết quả là động lực phát triển của kinh tế - xã hội. Qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ : Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể cũng như hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh tranh của chủ thể đó.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì : Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế. E Poter (1996) : Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Michael Poter không bó hẹp quan điểm ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và sản phẩm thay thế.
Vậy, có thể hiểu rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.3 Vai trò của việc nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghệp Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển. Trong mỗi doanh nghiệp để có thể vững mạnh trong môi trường kinh doanh đầy tính cạnh tranh thì doanh nghiệp nhất định phải tiến hành nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Một doanh nghiệp khi đã nâng cao được năng lực cạnh tranh cho mình thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cũng đang tự bản thân tạo ra lợi thế canh tranh cho mình, khi có lợi thế cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp có được những ưu thế trước đối thủ cạnh tranh.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Trình độ tổ chức quản lý Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp có thể coi là yếu tố quan trọng hành đầu, doanh nghiệp có tổ chức thì doanh nghiệp sẽ làm tốt mọi việc. Nếu các yếu tố khác tốt mà tổ chức quản lý tồi thì hoạt động hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn không đạt hiệu quả. Tổ chức quản lý tốt phải thể hiện trước hết là có phương pháp quản lý tốt, đó chính là việc biết áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại đã được nhiều nước và nhiều doanh nghiệp áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo phương pháp của quản lý chất lượng như ISO 9000 hoặc TQM. Tổ chức quản lý tốt cũng cần phải có hệ thống tổ chức quản lý gọn nhẹ, hiện đại, và xây dựng được nền văn hóa doanh nghiệp tốt.
Tổ chức quản lý có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được năng suất, chất lượng cao, lợi nhuận tăng, phát triển bền vững và góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.2 Nguồn lực của doanh nghiệp Thông thường với mỗi doanh nghiệp thì luôn có những nguồn lực như: nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ khoa học công nghệ. Nguồn vốn là nguồn lực cần có trước tiên vì không có vốn thì sẽ không thể thành lập được doanh nghiệp và không thể hoạt động được. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồ dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý. Doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dựng đồng vốn có hiệu quả để phát triển lợi nhuận; phải hạch toán chi phí một cách rõ ràng để xác định được hiệu quả một cách chính xác.
Để có được nguồn vốn dồi dào, doanh nghiệp phải đa dạng hóa nguồn cung vốn. Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại; hạn chế trong việc đào tạo và nâng cao trình độ lao động; hạn chế trong công tác triển khai - nghiên cứu - ứng dụng, nghiên cứu thị trường,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhân lực được coi là nguồn lực rất quan trọng, nhân lực chính là nguồn sáng tạo trong tổ chức. Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tư tưởng văn hoá của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kĩ thuật của sản phảm, mẫu mã, chất lượng. và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững. Bên cạnh nguồn nhân lực và nguồn vốn thì trình độ công nghệ cũng là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Công nghệ là phương pháp là bí mật, là công thức tạo ra sản phẩm.
Để có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm, do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng. Doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ thích hợp, nắm bắt được chu kì sống của công nghệ, thời gian hoàn vốn của công nghệ phải ngắn, đào tạo đội ngũ nhân viên có đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ nhằm phát huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ.
Về công nghệ, nếu doanh nghiệp giữ bản quyền sáng chế hoặc có bí quyết riêng thì thị trường sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có tính độc quyền hợp pháp.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Một doanh nghiệp để có được năng lực cạnh tranh thì các sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất và cung cấp cần phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng số lượng sản phẩm đó bán ra được nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường đã có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất và cung cấp loại sản phẩm dịch vụ đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chất lượng, giá cả sản phẩm, thời gian cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện mua bán, danh tiếng và uy tín. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chất lượng sản phẩm dịch vụ chính là yếu tố thể hiện mức độ của tập hợp các đặc tính của sản phẩm dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.