CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH XĂNG DẦU 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, xã hội và kinh tế, trong đó thường đề cập nhất trong kinh tế. Trong giai đoạn kinh tế học cổ điển, Adam Smith đã quan tâm đến CT và vai trò của nó đối với sản xuất. Sau này Các Mác đã có những đóng góp nhất định vào lý thuyết CT. Sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì nhiều lý luận về CT được đưa ra, như của những người theo Chủ nghĩa kinh tế tự do mới ở Đức, của A.
trong đó, lý thuyết Lợi thế cạnh tranh Micheal Porter là nổi bậc hơn cả. Cho đến nay, khái niệm CT vẫn chưa được định nghĩa thống nhất. Nguyên nhân ở đây là khái niệm CT được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề, ở nhiều cấp độ khác nhau (cá nhân, DN và quốc gia) và với nhiều mục đích khác nhau (lợi nhuận, phúc lợi xã hội,…). Theo Diễn đàn tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [14].
Theo từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [32]. Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên sọan định nghĩa: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận 7 lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình” [13, tr 144]. Nếu xét trên góc độ doanh nghiệp thì cạnh tranh là sự ganh đua giữa các DN nhằm giành được ưu thế hơn về một hoặc một số loại sản phẩm, dịch vụ trên thị trường để tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ nhằm mang lại lợi nhuận cao. CT trong kinh tế chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định: Phải tồn tại thị trường, thị trường đó phải có tối thiểu hai thành viên bên cung hoặc bên cầu, cung cấp hay tiêu thụ cùng một loại sản phẩm, dịch vụ hoặc các sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có tính chất thay thế cho nhau; mức độ đạt mục tiêu của thành viên này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ đạt mục tiêu của thành viên khác như thị phần, lợi nhuận.
CT là qui luật, là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Nó có thể đem lại lợi ích cho người này và làm thiệt hại cho người khác, song xét dưới mức độ lợi ích toàn xã hội, CT luôn có tác dụng tích cực. Quy luật của CT là đào thải những người kinh doanh, những DN yếu kém trên thị trường; duy trì và tạo sự phát triển đối với những DN tốt nhất, đồng thời qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển của toàn xã hội. Kết quả CT sẽ xác định vị thế của DN trên thị trường, vì thế từng DN đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược CT phù hợp để vươn lên tới vị thế cao nhất.
Đó cũng là cách thức tốt nhất để DN tồn tại và phát triển. CT tạo ra tính linh hoạt điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế, vì nó không chỉ giúp phân phối sử dụng các nguồn lực tối ưu, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, mà còn phát ra tín hiệu giúp nhà nước nhận biết tính đúng đắn của các chính sách kinh tế. CT còn mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. CT thúc đẩy các DN thỏa mãn nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của người tiêu dùng.
Thông qua CT của các DN, người tiêu dùng được mua hàng hóa, dịch vụ giá rẻ hơn, chất lượng ngày cao và luôn được đổi mới theo nhu cầu, thị hiếu, được hưởng dịch vụ phục vụ tốt hơn.2 Các hình thái cạnh tranh Vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều nhà kinh tế mà nổi tiếng nhất là nhà kinh tế học Mỹ E.Chamberlin và nhà kinh tế học Anh J.Robinson đã tìm cách nghiên cứu để vượt qua sự tách bạch quá rạch ròi giữa hai cực là độc quyền thuần tuý và CT hoàn hảo. Mô hình cạnh trạnh không hoàn hảo hoặc CT mang tính độc quyền là phạm trù thứ ba giữa hai cực này. Sự khác biệt của nó so với hai phạm trù kia là nó thiếu một số nhân tố hoàn hảo hoặc nhân tố độc quyền của thị trường. a) Cạnh tranh hoàn hảo Canh tranh hoàn hảo là CT trên thị trường có nhiều người bán, nhiều người mua và không có một người bán hay một người mua duy nhất nào có ảnh hưởng đáng kể tới giá cả hàng hóa, dịch vụ.
CT hoàn hảo có những đặc trưng cơ bản sau - Có vô số người mua và người bán độc lập với nhau. Số người bán và người mua được gọi là nhiều khi những giao dịch bình thường của một người mua hoặc một người bán không ảnh hưởng gì đến giá mà ở đó các giao dịch được thực hiện. - Hàng hoá được mua và bán hoàn toàn giống nhau. Đặc trưng này thực tế dễ thấy trên thị trường: mỗi đơn vị hàng hóa là bản sao của một đơn vị bất kỳ khác, bởi vậy người mua không bao giờ phải quan tâm đến việc họ mua các đơn vị đó của ai; - Tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi, thông tin trên thị trường minh bạch, rõ ràng; - Có một số lượng lớn các DN (cả bán và mua), mỗi DN có sản lượng nhỏ, hoàn toàn không có khả năng kiểm soát giá trên thị trường đối với sản phẩm mình bán, không có một DN nào có thể ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường; - Tất cả các DN đều nhắm đến một mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận; - Các DN có thể gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành một cách dễ đàng, không tốn kém.
b) Cạnh tranh không hoàn hảo CT không hoàn hảo có hai dạng: CT mang tính độc quyền, độc quyền nhóm. 9 Cạnh tranh mang tính độc quyền, theo nghĩa rộng là cuộc CT giữa đơn vị cung với những hàng hoá khác biệt CT lẫn nhau trên những thị trường với một số ít đơn vị cung. Đến nay, người ta hiểu khái niệm CT mang tính độc quyền chỉ theo nghĩa hẹp là: CT giữa nhiều người cung trên thị trường với những hàng hóa khác biệt nhau về giá, địa chỉ, chất liệu, thời gian cung ứng, con người dịch vụ cung ứng.; sự khác biệt này tạo điều kiện cho mỗi DN có thể có một vị trí độc quyền tương đối trong một phạm vi nhỏ. CT mang tính độc quyền, giống với CT hoàn hảo là có sự tự do gia nhập, vì vậy khả năng thu lợi nhuận sẽ cuốn hút DN mới với các mặt hàng CT tham gia thị trường.
Khi DN có hàng hoá, dịch vụ mới, nổi trội tham gia thị trường thì có thể có giá bán cao và đạt lợi nhuận hơn mức bình quân nhờ vị trí độc quyền tương đối tạo nên. CT mang tính độc quyền so với CT hoàn hảo thì có mặt không hiệu quả nếu xét phạm vi xã hội, tuy nhiên cũng phải tính đến lợi ích nó mang lại cho người tiêu dùng từ tính đa dạng của sản phẩm. Lý thuyết về CT mang tính độc quyền tạo cơ sở cho các DN có thêm những phương án để xây dựng chiến lược marketing khác nhau phù hợp với vị thế của mình trên thị trường và với hình thái thị trường. Độc quyền tập đoàn - hay còn gọi là độc quyền nhóm, là trên thị trường chỉ có một số DN sản xuất toàn bộ hay hầu hết tổng sản lượng.
Trong một số thị trường độc quyền tập đoàn, một số hoặc tất cả các DN đều thu được lợi nhuận đáng kể nếu tính dài hạn, vì có các hàng rào gia nhập làm cho các DN mới không thể hoặc khó có thể gia nhập vào thị trường. Quản lý DN độc quyền tập đoàn rất phức tạp; do chỉ có một số DN CT với nhau nên khi quyết định về giá, sản lượng, quảng cáo, đầu tư, các DN độc quyền tập đoàn phải có nhiều cân nhắc chiến lược quan trọng, đồng thời cân nhắc đến phản ứng của đối thủ CT [2].3 Khái niệm năng lực cạnh tranh và các quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh Vào đầu những năm 80-90 của thế kỷ XX, khái niệm NLCT được đề cập trong các công trình nghiên cứu, các bản báo cáo của các cơ quan, tổ chức nhà nước ở Mỹ và Anh như Báo cáo Aldington (1985) về NLCT của Mỹ, trong công trình 10 nghiên cứu của Buckley (1988), trong Sách trắng về NLCT của Anh (1994), báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh (1998). Đến nay, cũng như CT, quan niệm về NLCT chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia trên thế giới. Sự không thống nhất bắt nguồn từ chỗ xuất phát điểm và vị trí kinh tế của các quốc gia trên thế giới là không giống và đồng đều với nhau.
Các quốc gia phát triển có cách tiếp cận hiện đại và gần với kinh tế tri thức, còn các quốc gia chưa phát triển mới có tầm nhìn của nền kinh tế công nghiệp, thậm chí các quốc gia chậm và đang phát triển thì chưa đạt tới trình độ này. Có một số quan niệm về NLCT của DN đáng chú ý như sau: - NLCT của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN. Đây là quan điểm phổ biến, nói lên được sản lượng tương đối và hiệu quả hoạt động trên thị trường của DN. Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, các yếu tố duy trì và nâng cao NLCT, chưa phản ánh bao quát năng lực kinh doanh của DN.
- NLCT đồng nghĩa với năng suất lao động. Chẳng hạn, theo Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về NLCT. Quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN. - NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế CT của DN.
Lợi thế CT nó lên được sức mạnh của DN trong cả quá trình.