Chương 1: Cơ sở sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty TNHH sản xuất bao bì Quyết thắng Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH sản xuất bao bì Quyết thắng 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh đƣợc sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao. nên có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngƣời tiêu dùng, thƣơng nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tƣơng đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thƣơng mại khác để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng khi ngƣời sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, ngƣời tiêu dùng lại muốn mua đƣợc với giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lƣợc của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành… Có nhiều biện pháp cạnh tranh: Cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo). Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện về thị trƣờng tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thị trƣờng, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao đƣợc thu nhập thực tế.
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm “Thị trƣờng, chiến lƣợc, cơ cấu thì cạnh tranh trong thƣơng trƣờng” không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia 4 tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh. Theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập” cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trƣờng với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng để thu đƣợc lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng”. Tóm lại, trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh luôn xảy ra và là động lực để doanh nghiệp nghiên cứu và phục vụ khách hàng tốt hơn.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo tác giả Lê Đăng Doanh : “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc và ngoài nƣớc”. Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trƣờng, chiến lƣợc, cơ cấu nêu lên tầm quan trọng của việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp, đây chính là năng lực cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp cố gắng đạt đƣợc, là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh của mình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn ngƣời tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu đƣợc lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng. Năng lực canh tranh của doanh nghiệp đƣợc tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp.
Năng lực cạnh 5 tranh không chỉ đƣợc tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh còn có thể đƣợc hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt đƣợc một số kết quả mong muốn dƣới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lƣợng các sản phẩm cũng nhƣ năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trƣờng hiện tại và làm nảy sinh thị trƣờng mới. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng đƣợc để "nắm bắt cơ hội", để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ.
Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về lợi thế cạnh tranh nhƣ sau: Theo tác giả Wagner và Hollenbeck trong Organizational behavior - Securing competitive advantage thì lợi thế cạnh tranh là những điểm nổi bật của doanh nghiệp mà đối thủ không thể sao chép đƣợc. Một trong những cách hiệu quả nhất để bảo đảm lợi thế cạnh tranh là sử dụng tốt kiến thức, kỹ năng và quản lý nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp đều có nguồn nhân lực khác nhau và các đối thủ không thể sao chép sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra bởi nguồn nhân lực này.
Theo tác giả Michael Porter trong Competitive advantage cho rằng, tùy theo mỗi doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh khác nhau, để có thể thành công trên thị trƣờng tức là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh so với 6 các đối thủ. Mặt khác, lợi thế cạnh tranh có thể đƣợc biểu hiện ở 3 góc độ: hoặc phí tổn thấp hơn, có những khác biệt độc đáo so với đối thủ hoặc tập trung trƣớc tiên vào một phân khúc thị trƣờng nào đó để phát triển. Trong đó, về phí tổn thấp là trong những điều kiện và khả năng kinh doanh tƣơng đƣơng, doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm tƣơng đƣơng về giá cả, chất lƣợng, mẫu mã so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhƣng chi phí thấp hơn. Về khác biệt hóa là nhấn mạnh đến các ƣu điểm đặc biệt riêng của sản phẩm nhƣ chất lƣợng, độ tin cây, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ.
Về tập trung vào một phân khúc thị trƣờng là tập trung nhằm thoả mãn nhu cầu của một nhóm khách hàng cụ thể nào đó. Thị trƣờng này có thể dựa trên cơ sở địa lý, giới tính, lứa tuổi. Việc tập trung này không nhất thiết là tập trung vào chỉ một phân khúc thị trƣờng, có thể tập trung nhiều hơn một phân khúc thị trƣờng để phát triển. Nhƣ vậy, thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về lợi thế cạnh tranh, theo tác giả đều tập trung vào những vấn đề cơ bản là “Lợi thế cạnh tranh là nền tảng cho sự cạnh tranh, là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, làm tốt hơn đối thủ, là nhân tố cần thiết cho sự thành công và phát triển của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng”.
Tóm lại, xây dựng đƣợc lợi thế cạnh tranh là phát huy nội lực của doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm có tính đặc thù riêng biệt so với đối thủ bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển doanh nghiệp. Quy luật cung cầu, quy luật chi phối sự vận động của kinh tế thị trƣờng A. Mar Shall nói thị trƣờng là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. Cung và cầu là sự khái quát hoá hai lực lƣợng cơ bản của thị trƣờng, là ngƣời bán và 7 ngƣời mua, ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, là hai khâu trong quá trình tái sản xuất là sản xuất và tiêu dùng.
Về sức cầu: Sức cầu là hình thức biểu hiện của nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng đƣợc đảm bảo bằng khối lƣợng tiền tệ với giá cả nhất định. Nói cách khác cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán. Giữa cầu và nhu cầu có mối liên hệ với nhau. Có thể có nhu cầu về hàng hoá song nếu không có tiền đảm bảo theo giá cả nhất định của hàng hoá đó thì sẽ không xuất hiện cầu.
Cầu hàng hoá phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá. Giữa giá cả và số lƣợng đƣa ra thị trƣờng để thoả mãn nhu cầu có quan hệ tỷ lệ nghịch. Nếu số lƣợng sản phẩm đƣa ra thị trƣờng ngày càng tăng thì giá trị sản phẩm hàng hoá đó ngày càng giảm xuống. Từ đó giữa cầu và giá có mối liên hệ sau đây : Nếu giá cả hàng hoá thấp thì ngƣời mua sẽ mua một khối lƣợng hàng hoá nhiều hơn và ngƣợc lại.
Cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu mua sắm. Nếu nhu cầu mua sắm lớn thì có khả năng tăng cầu và ngƣợc lại. Vì nhu cầu của các chủ thể kinh tế và cƣờng độ nhu cầu của họ khác nhau, nên mỗi chủ thể kinh tế cần phải biết sắp xếp nhu cầu theo thứ tự ƣu tiên sao cho với quy mô thu nhập nhất định có thể thoả mãn nhu cầu cao nhất và có hiệu quả nhất. Nhân tố khác ảnh hƣởng đến cầu hàng hoá là khả năng mua sắm của các chủ thể kinh tế.
Đến lƣợt nó khả năng mua sắm lại phụ thuộc không chỉ vào giá cả, mà còn phụ thuộc vào thu nhập của mỗi ngƣời. Sự đột biến của thu nhập và giá cả tác động đến sự thay đổi của cầu, song theo nhiều hƣớng khác nhau. Giá cả hàng hoá tăng lên làm cho cầu hàng hoá giảm. Ngƣợc lại thu nhập tăng làm tăng cầu.
Một vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu sức cầu là phân tích sự co giãn của cầu. Về khái niệm, sự co giãn của cầu là sự biễn đổi của cầu dƣới ảnh hƣởng biến đổi của giá.