Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH một thành viên Xây lắp điện 4. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty TNHH một thành viên Xây lắp điện 4. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm cạnh tranh Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh, không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của xã hội. Cạnh tranh theo quan điểm của Marx khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Quan điểm này coi cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu, xem xét cạnh tranh là sự lấn át, chèn ép nhau để tồn tại.
Theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1920 ở Anh) "cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình". Cạnh tranh theo quan điểm của thế giới hiện đại được hiểu đơn giản là quá trình mà doanh nghiệp khẳng định sự có mặt của mình trên thương trường nơi có vô số các doanh nghiệp khác cũng đang tồn tại và thông qua các chiến lược kinh doanh để mở rộng thị phần, tìm kiếm thậm chí giành giật từng khách hàng nhằm không ngừng nâng cao uy tín của mình. Nói cách khác cạnh tranh đối với doanh nghiệp có nghĩa là đảm bảo, duy trì và phát triển vị trí trên thương trường trong nước và quốc tế. Đó là khả năng một doanh nghiệp có thể bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng thị phần, tăng lợi nhuận và tăng mức sống của người lao động.
Với các doanh nghiệp xây lắp, cạnh tranh có nghĩa là tìm kiếm và kí kết được thật nhiều các hợp đồng xây lắp, giảm chi phí, tăng lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp để giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Cạnh tranh gắn liền với cơ chế thị trường và trở thành quy luật kinh tế đặc thù của nền kinh tế đa phần và đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Thông qua cạnh tranh 7 toàn xã hội có thể thu được những lợi ích cao nhất từ những nguồn lực hạn chế nhất.
Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận những tác động tiêu cực của chúng trong nền kinh tế, do đó trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh giành thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) thông qua các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội. Biện pháp kỹ thuật là áp dụng công nghệ hiện đại, máy móc thiết bị tiên tiến, công nhân có trình độ lành nghề cao; biện pháp kinh tế như trợ cấp tài chính, bảo hộ, cho vay ưu đãi, bán phá giá,…; biện pháp chính trị - kinh tế là dùng áp lực chính trị buộc đối phương phải nhượng bộ một hoặc một số điều kiện thương mại nào đó có lợi cho mình. Trong cạnh tranh nảy sinh ra người có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu.
Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh Một danh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trường và ngày càng phát triển thì phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Cái đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của mình một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh bằng cách tạo ra được lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
"Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn" (Lê Công Hoa, Lê Chí Công, 2006). Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yêu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa 8 nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.
Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác.
Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị hệ thống thông tin… Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: Giá cả sản phẩm và dịch vụ, chất lượng sản phẩm và bao gói, kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, trình độ lao động, thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Thực chất của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tạo ra ngày một nhiều hơn các ưu thế về mặt giá cả, giá trị sử dụng, uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp, nhằm đặt được những ưu thế tương đối trong cạnh tranh, đấy nhanh tốc độ tiêu thụ. Các nhân tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô Nhân tố kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách hợp tác với nước ngoài,…Các chính sách và biện pháp kinh tế như vậy nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp thuộc các ngành đó. Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế được thể hiện thông qua GDP.
Do đó, khi GDP đạt mức cao tức là nền kinh tế đang phát triển theo xu thế tích cực làm tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân sẽ tăng lên. Ngoài ra, nền kinh tế diễn ra theo xu thế tích cực còn thể hiện ở các chỉ số lạm phát thấp, thuế không tăng, giá cả ổn định. Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển. Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì sẽ thành công và khả năng cạnh tranh cũng sẽ tăng lên.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế diễn ra theo xu thế tiêu cực, lạm phát tăng cao, giá tăng, sức mua của người dân giảm sút lại làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhân tố chính trị, luật pháp: Sự ổn định chính trị xã hội, chính sách điều tiết vĩ mô kinh tế của nhà nước, sự rõ ràng của hệ thống luật pháp có tác động lớn tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị đem lại sự lành mạnh hóa xã hội, sự ổn định kinh tế. Hệ thống luật pháp rõ ràng đã tạo ra một hành lang thông thoáng, bảo đảm sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả.
Qua đó, một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp khác trong xã hội và trên thương trường quốc tế đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp của mình với các doanh nghiệp của các nước khác. Việc chấp hành luật pháp nghiêm minh của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp sẽ đưa lại hiệu quả kinh doanh tốt. Ngược lại nếu việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thiếu trong sáng thì tất sẽ dẫn doanh nghiệp vào con đường bất chính như là trốn thuế, gian lận thuế hay sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại… Trong môi trường pháp lý không lành mạnh, nhiều khi năng 10 lực cạnh tranh của doanh nghiệp không được đánh giá đúng thực chất của nó. Điều này sẽ dẫn tới thiệt hại kinh tế lớn và rối loạn trật tự xã hội.
Nhân tố văn hóa, xã hội: Ở mỗi vùng khác nhau sẽ tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong cạnh tranh là khác nhau do văn hóa xã hội của từng vùng là khác nhau.