PHẦN MỞ ĐẦU Thuế nhà nƣớc giữ vai trò rất quan trọng trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nƣớc, là công cụ quan trọng để phân phối lại thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, qua đó góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tạo điều kiện để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Luật thuế GTGT đã đƣợc thông qua trong kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khoá XII ngày 03 tháng 06 năm 2008. Cùng với chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của các Luật thuế khác, Luật thuế GTGT còn có tác động tích cực đến công tác quản lý doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính đúng doanh thu của doanh nghiệp nên những ngƣời làm công tác quản lý kinh doanh ngày càng quan tâm đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ.
Việc nghiêm túc thực hiện công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp và tự giác thực hiện kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế quản lý đƣợc tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong quá trình thực thi Luật thuế GTGT, đặc biệt là tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng việc hoàn thuế GTGT hàng hoá dịch vụ mua vào đƣợc khấu trừ để bòn rút NSNN. Tình trạng gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT đã trở thành vấn nạn của toàn xã hội, bởi vì các hành vi gian lận này diễn ra trên phạm vi rộng, số tiền bòn rút NSNN bị truy thu xử phạt tăng qua các năm, các vụ việc bị phát hiện có quy mô ngày càng lớn và tính chất ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế đƣợc Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 có tác động tích cực trong thực thi Luật thuế GTGT, hạn chế hoàn thuế GTGT đối với các đối tƣợng có rủi ro cao.
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rõ công tác giải quyết hồ sơ và cán bộ thuế là các yếu tố có vai trò quan trọng, quyết định sự công bằng trong việc thực thi pháp luật về thuế nói chung, hoàn thuế GTGT nói riêng. Thời gian qua, công tác giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT vẫn còn những bất cập và sai phạm, đồng thời vẫn còn tình trạng cán bộ thuế có những biểu hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện công tác hoàn thuế GTGT. Để làm tốt công tác hoàn thuế GTGT, trƣớc hết nội bộ Ngành thuế và cụ thể là Cục Thuế Bình Dƣơng cần phải có sự kiểm soát tốt đối với hoạt động của từng bộ 1 phận, cá nhân trong tổ chức. Để có thể kiểm soát chặt chẽ về mặt nội dung, trình tự, thủ tục hoàn thuế cũng nhƣ từng bộ phận, cán bộ giải quyết hồ sơ hoàn thuế trong tổ chức thì việc xây dựng HTKSNB vững mạnh, nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa trong việc hoàn thuế GTGT là rất cần thiết.
Tác giả đã thống kê rà soát luật lệ quy định liên quan hoàn thuế GTGT, vận dụng lý luận về kiểm soát nội bộ theo Báo cáo của Uỷ ban các tổ chức bảo trợ thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về kiểm soát nội bộ (COSO) 1992, cập nhật 2013 và báo cáo INTOSAI 1992 cập nhật mới INTOSAI 2013 cũng nhƣ thực hiện khảo sát sơ bộ để xây dựng Bảng khảo sát thu thập dữ liệu qua đó kiểm định các giả thuyết về tác động của nhân tố Môi trƣờng kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông, Hoạt động giám sát và Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp đến hiệu quả của HTKSNB trong hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Dƣơng. Qua nghiên cứu thực trạng quản lý hoàn thuế và phân tích kỹ thuật kết quả khảo sát, tác giả thu đƣợc kết quả là các nhà quản lý và nhân viên đƣợc phân giao nhiệm vụ liên quan quản lý hoàn thuế GTGT đánh giá HTKSNB hoạt động hữu hiệu và 6 nhân tố nêu trên có tác động dƣơng đối với nâng cao hiệu quả HTKSNB trong quản lý hoàn thuế GTGT. Luận văn tập trung nghiên cứu HTKSNB trong quản lý hoàn thuế GTGT ở cấp Cục Thuế do Cục Thuế tỉnh Bình Dƣơng giải quyết trong giai đoạn từ năm 2016 – 2018. Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) đã ban hành quy trình hoàn thuế GTGT; thông tƣ hƣớng dẫn về quản lý hoàn thuế GTGT; thông tƣ quy định về quản lý rủi ro trong quản lý thuế; bộ tiêu chí và chỉ số phân loại hồ sơ - lựa chọn doanh nghiệp kiểm tra thanh tra sau hoàn.
Theo quan điểm của tác giả, điều trên thể hiện tính hệ thống và khoa học của công tác quản lý hoàn thuế GTGT và rất gần với việc hoàn thiện HTKSNB theo quan điểm trong báo cáo COSO, INTOSAI. Nghiên cứu này đƣa ra một hƣớng tiếp cận mới, giúp Ngành Thuế Bình Dƣơng đánh giá đƣợc mức độ đáp ứng các mục tiêu về hoàn thuế GTGT, hiệu quả của việc thực thi các luật lệ và quy định, các giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lƣợng quản lý hoàn thuế, giải quyết hoàn thuế GTGT trong phạm vi Cục Thuế Bình Dƣơng. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cục Thuế tỉnh Bình Dƣơng là cơ quan chuyên môn nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nƣớc, đƣợc giao nhiệm vụ thu thuế và thu khác trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, thƣờng xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế của các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn. Theo báo cáo tổng kết công tác thuế 2016 – 2018, hàng năm Cục Thuế Bình Dƣơng tiếp nhận và giải quyết trên 3000 hồ sơ hoàn thuế GTGT với số thuế đề nghị hoàn gần 15 ngàn tỷ đồng. Có thể thấy công tác quản lý hoàn thuế GTGT là một nhiệm vụ quan trọng của quản lý thuế. Trong quản lý thuế nói chung và quản lý hoàn thuế tại Việt Nam hiện nay, các nhà quản lý thƣờng dựa trên các quy định của pháp luật, kinh nghiệm cá nhân để hành xử hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác quản lý, kiểm soát.
Ngoài ra, việc thiếu một kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát sẽ dẫn đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục không cần thiết trong khi lại bỏ sót những rủi ro quan trọng. Nghiên cứu về KSNB trong hoàn thuế cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu trong quản lý hoàn thuế GTGT: Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cƣơng, đạo đức, kinh tế và hiệu quả. Thực hiện đúng trách nhiệm. Tuân thủ theo luật pháp và quy định hiện hành.
Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích. Kiểm soát những hành vi sai phạm trong thực thi công vụ. Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy chƣa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu HTKSNB trong quản lý hoàn thuế GTGT cụ thể tại Cục Thuế tỉnh Bình Dƣơng trong 3 năm từ 2016-2018. Đồng thời mô hình nghiên cứu có bổ sung thêm 1 nhân tố mới ngoài mô hình theo lý thuyết INTOSAI là “Ngành nghề hoạt động”.
Thực tế, một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giạn lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT đến từ môi trƣờng kiểm soát (luật lệ, quy định liên quan quy trình hoàn thuế, quản lý thuế trong hoàn thuế GTGT chƣa đƣợc cập nhật kịp thời), đánh giá rủi ro gian lận, hoạt động kiểm soát, chế độ thông tin báo cáo, cơ chế giám sát, cơ cấu kỷ cƣơng trong hoạt động quản lý thuế tại đơn vị. Các vấn đề vừa nêu là đối tƣợng nghiên cứu khi tìm hiểu về HTKSNB trong tổ chức. 3 Từ thực tế thực thi pháp luật, cũng nhƣ tính cấp thiết của việc kiểm soát nội bộ trong hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế Bình Dƣơng, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “ĐÁNH GIÁ SỰ HỮU HIỆU VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ BÌNH DƢƠNG”. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan.
Nghiên cứu ngoài nƣớc. KSNB có vai trò hết sức quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, vì vậy việc xây dựng HTKSNB là vấn đề mà hầu hết các nhà kinh tế học ở các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến. Quá trình nghiên cứu đề tài có tham khảo một số nghiên cứu nƣớc ngoài: - Báo cáo COSO năm 1992 của Hội đồng quốc gia về chống gian lận Báo cáo tài chính của Hoà Kỳ hay còn gọi là Uỷ ban Treadway. Báo cáo này đƣa ra một khuôn mẫu về KSNB giúp ngƣời đọc có một cái nhìn toàn diện về HTKSNB.
Đây đƣợc xem là nền tảng để phát triển các lý thuyết về KSNB. - Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ: Sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá HTKSNB trong kiểm toán độc lập về kiểm toán Báo cáo tài chính và ảnh hƣởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong báo cáo tài chính đƣợc thể hiện trong Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ. Nghiên cứu tài liệu này để hiểu và biết cách vận dụng báo cáo COSO trong thực tiễn KSNB. - Hƣớng dẫn về KSNB năm 1992, tài liệu đƣợc cập nhật đến năm 2013 của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI).
Tài liệu giúp giải quyết vấn đề về lý luận và vận dụng thực tiễn KSNB trong khu vực công. Nghiên cứu sử dụng thông tin từ 43 ngân hàng thƣơng mại ở Kenya và kết quả nghiên cứu cho thấy 5 nhân tố có tác động hiệu quả hoạt động tài chính, trong đó nhân tố Môi trƣờng kiểm soát có ảnh hƣởng nhất. Nghiên cứu giới hạn trong 43 ngân hàng thƣơng mại tại Kenya cho năm tài chính 2014, và chỉ áp dụng mô hình theo lý thuyết COSO, vì vậy phần nào mang tính chủ quan và mô hình hồi quy chỉ 4 phản ánh đƣợc 60,2% sự biến động là do tác động từ các biến độc lập, còn lại 39,8% là do sai số ngẫu nhiên hoặc các yếu tố khác ngoài mô hình. Nghiên cứu trong nƣớc.
Tại Việt Nam, chuẩn mực Kiểm toán VSA số 400 năm 2002 có nội dung hƣớng dẫn về đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ. Ở khía cạnh quản lý hành chính, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nƣớc đã có ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về KSNB trong một số lĩnh vực.