CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp Từ trước đến nay đã có rất nhiều quan điểm về khái niệm Phân tích tài chính doanh nghiệp được đưa ra, tiêu biếu như: Theo PGS. Nguyễn Năng Phúc, giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, định nghĩa rằng phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiếm tra, đối chiếu, và so sánh các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ để người sử dụng thông tin có thể đánh giá và dự tính các tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như các rủi ro trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính và đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác (Nguyễn Năng Phúc, 2008). Nguyền Ngọc Quang, giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, đã đưa ra nhận xét rằng phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau (Nguyễn Ngọc Quang, 2011).
Những khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp ở trên đà phản ánh việc phân tích tài chính có ý nghía rất lớn đối với mồi doanh nghiệp. Phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp cho những đối tượng quan tầm khác cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tầm quan trọng cua phân tích tài chính Tình hình tài chính có mối quan hệ trực tiếp và mật thiết với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2001). Tình hình tài chính cùa doanh nghiệp tốt hay xấu có tác động thúc đấy hay kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, các hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp đều có ảnh hưởng tới tình hình tài chính. Neu kết quả sản xuất kinh doanh tốt, thì nó đem 1 lại nguồn thu lớn cho doanh nghiệp và ngược lại (Nguyền Ngọc Quang, 2011). Qua đó, ta thấy phân tích tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó giúp các chủ doanh nghiệp biết rõ về khả năng tài chính của mình một cách chính xác nhằm định hướng cho việc đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời để thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cần thiết của phân tích tài chỉnh doanh nghiệp Đổi với các nhà quản trị doanh nghiệp: Với việc phân tích tình hình tài chính nhằm đánh giá rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra như thế nào, đồng thời, xác định được điếm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2008).
Mở ra hướng cơ sở để định hướng hoạch định chiến lược của ban lãnh đạo của doanh nghiệp. Đổi với các nhà đầu tư: Điều này rất cần thiết đối với nhà đầu tư để cần biết tình hình lợi nhuận, doanh thu của chủ sở hừu, lợi tức cổ phần và tăng thêm giá trị vốn của nhà đầu tư đã bỏ ra (Nguyễn Năng Phúc, 2008). Các nhà đầu tư luôn quan tâm đến phân tích tài chính đế nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp (Nguyền Ngọc Quang, 2011). Điều này làm tiền đề cho việc quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp này hay không.
Đổi với các đoi tượng cho vay: Thông qua các bảng biểu, kết quả, báo cáo về phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các to chức cho vay có the đánh được khả năng vay và khả năng trả nợ của doanh nghiệp (Nguyễn Ngọc Quang, 2011). Trước khi quyết định cho vay, người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không và khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào. Đoi với các cơ quan chức năng của Nhà nước: Mối quan hệ kinh tê này được thê hiện trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi nhuận, các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo quy định và ngược lại, nhà nước cũng phải có chính sách khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp phát triền với những tài trợ về mặt tài chính đe thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô (Nguyền Năng Phúc, 2008). Nguồn tài liệu dùng làm căn cứ phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Đe tiến hành phân tích tài chính, người ta sử dụng nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính (Nguyền Năng Phúc, 2008).
Những tài liệu cốt lõi cần dùng để phân tích tình hình tài chính là bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Nguyễn Ngọc Quang, 2011). Bảng cân đối kế toán mô tả sức mạnh tài chính của một doanh nghiệp bằng cách trình bày những thứ mà nó có và những thứ mà nó nợ tại một thời điểm nhất định nào đó. Người ta có the xem bảng cân đối kế toán như một bức ảnh chụp nhanh, bởi vì nó báo cáo tình hình tài chính vào cuối năm. Ngược lại, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lại giống như bức tranh phản ánh sự vận động bởi vì nó báo cáo về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hoặc gây ra tình trạng lồ vốn.
Bảng cân đoi kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tống hợp phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm cuối năm (Nguyễn Ngọc Quang, 2011). Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản; nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành của các tài sản đó (Nguyền Năng Phúc, 2008). Thông qua bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, có the phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các thành phần của bảng cân đối kế toán gom: Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có đến thời diem lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp (Nguyền Ngọc Quang, 2011). Căn cứ vào số liệu này, có thể đánh giá một cách tong quát quy mô tài sản và kết cấu các loại vốn của doanh nghiệp hiện có đang tồn tại dưới hình thái vật chất. Xét về mặt pháp lý, 3 số lượng của các chỉ tiêu bên phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2008).
Phần nguồn vốn: phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng tại thời điểm lập báo cáo (Nguyền Ngọc Quang, 2011). về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn vốn, các nhà quản lý có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng, về mặt pháp lý, the hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về tong so vốn được hình thành từ những nguồn khác nhau (Nguyễn Năng Phúc, 2008). Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tong hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của doanh nghiệp, số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tong hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỳ thuật và kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp (Nguyễn Ngọc Quang, 2011). Nội dung và kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gom (Nguyền Năng Phúc, 2008): Cột số 1: Các chỉ tiêu báo cáo.
Cột số 2: Mã số của các chỉ tiêu tưong ứng. Cột số 3: Số hiệu tưong ứng với các chỉ tiêu cùa báo cáo này được the hiện trên Bản thuyết minh Báo cáo tài chính. Cột số 4: Tống số phát sinh trong kỳ báo cáo các năm. Cột số 5: Số liệu của năm trước.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về biến động tài chính trong doanh nghiệp, giúp cho việc phân tích các hoạt động đầu tư, tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đánh giá khả năng tạo ra nguồn tiền này cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư tài chính của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2008). Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp nhũng thông tin chi tiết hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh, về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho việc phân tích một cách cụ the một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính mà các báo cáo tài chính khác không thế trình bày được (Nguyền Năng Phúc, 2008). Phương pháp phân tích 1. Phăn tích theo chiều ngang Phân tích theo chiều ngang bằng cách tính số tiền chênh lệch và tỷ lệ phần trăm (%) từ năm nay so với năm trước.
Tỷ lệ phần trăm (%) chênh lệch phải được tính toán để cho thấy quy mô thay đồi tương quan ra sao so với quy mô số tiền liên quan. Phương pháp được trình bày so liệu của nhiều năm liền nhau trên cùng một trang giấy giúp việc phân tích, so sánh được dề dàng (Nguyễn Năng Phúc, 2008). Tăng/Giảm = số năm phân tích - số năm số năm phân tích - số năm chuẩn /0 I ang/<jriain — V 1 nn A 1UU số năm chuẩn 1. Phăn tích theo chiều dọc (Phân tích theo quy mô chung) Phân tích theo chiều dọc là so sánh từng khoản mục (hay nhóm khoản mục) với một khoản mục cụ thể trong một năm tài chính (Nguyễn Năng Phúc, 2008).
+ Với báo cáo KQKD, thường là Doanh thu. + Với BCĐKT, đó là Tài sàn và Nguồn vốn. Phân tích theo chiều dọc còn gọi là phân tích theo quy mô chung. Mục đích là đế thấy tầm quan trọng tương đối của từng mục khi có tăng, giảm như thế nào so với chỉ tiêu tống thể, từ đó đánh giá khái quát tình hình tài chính cùa doanh nghiệp.
5 Khoản mục phân tích % Quy mô chung = ------------------------------------------------------- X 100 Khoản mục chuẩn ❖ Nội dung so sánh (Nguyền Năng Phúc, 2008): - So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện trong kỳ trước đe thấy rõ xu hướng thay đoi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.