Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20 xuất phát từ tiếng Anh là "Legal aid". Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb Khoa học xã hội, 1997 thì "Legal aid" có nghĩa là "Trợ cấp pháp lý".
Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nxb. Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì "Legal aid" trong cụm từ "Legal aid schem" được dịch là "kế hoạch bảo trợ tư pháp". Để có cơ sở lý luận xác định rõ nội hàm của khái niệm "trợ giúp pháp lý", cần phải hiểu khái niệm "Trợ giúp". Theo Đại Từ điển tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1999 thì "Trợ giúp" là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến".
Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh thì trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Với Từ điển tiếng Việt của Nxb Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ". Thuật ngữ "giúp đỡ" lại được giải thích theo nghĩa tích cực là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần. Cái đang cần ở đây là "pháp lý" theo nghĩa rộng của từ này.
Thuật ngữ "pháp lý" được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là "hỗ trợ pháp luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp". Như vậy, có rất nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội đã có lịch sử trên 500 năm nay và được bắt nguồn tại Anh từ thế kỷ XV - XVI.
Cùng với xu hướng phát triển của nhiều quốc gia châu Âu, tư duy về quyền được trợ giúp pháp lý trở thành trào lưu chung, trợ giúp pháp lý gắn với khái niệm "luật cho người nghèo". Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, quan niệm về trợ giúp pháp lý cũng có sự khác nhau, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước. Theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì "trợ giúp pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý". Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý 1995 của Singapore cũng giải thích rằng "trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý".
Người Úc cho rằng "trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật". Dưới góc độ kinh tế theo quan niệm của Đức thì "trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Tòa án" [41, tr. Nhấn mạnh đến tính pháp lý, nêu rõ chủ thể thực hiện, nội dung thực hiện, pháp luật Hàn Quốc quy định "trợ giúp pháp lý là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật". Tại Điều 1001 Đạo luật về công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 của Mỹ quy định: "trợ giúp pháp lý là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp".
Như vậy, ở các nước trên thế giới, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được thể hiện qua ba tính chất: kinh tế, pháp lý và nhân đạo. Tính kinh tế và tính nhân đạo thể hiện ở chỗ hoạt động này nhằm giúp đỡ cho những đối tượng không có khả năng tài chính hoặc khó khăn về tài chính để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Tính pháp lý thể hiện thông qua sự 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định. Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong sách báo từ năm 1995, khi bắt đầu có đầu tư nghiên cứu xây dựng Dự án về phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam và đã được sử dụng chính thức trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.
Đến nay, đã có cả một hệ thống văn bản pháp luật nhắc đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý". Nhìn chung, khái niệm trợ giúp pháp lý thể hiện được mục đích, ý nghĩa, nội dung cơ bản, đối tượng phục vụ và tính chất đặc thù của hoạt động này nhằm phân biệt với các hoạt động nghiệp vụ pháp lý khác. Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí các dịch vụ pháp luật của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ các dịch vụ pháp luật miễn phí cho các đối tượng nhất định do các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước thực hiện theo lĩnh vực, phạm vi trợ giúp mà pháp luật quy định.
Luật trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 tại Điều 3 đã đưa ra khái niệm về trợ giúp pháp lý: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [34]. Có thể nói, khái niệm trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý đã thể hiện đầy đủ, toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Một là, Nhà nước và xã hội cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý nhằm giúp họ có kiến thức pháp luật để tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định hoặc sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Hai là, việc giúp đỡ đó là nhằm bù đắp cho những người được trợ giúp pháp lý những thiếu hụt trong cuộc sống do địa vị xã hội hoặc tình trạng pháp lý của họ mang lại.
Mà chính địa vị xã hội hoặc tình trạng pháp lý mà họ không có khả năng tự mình thực hiện hoặc không có điều kiện tiếp cận với pháp luật. Ba là, sự giúp đỡ đó được thực hiện xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, trách nhiệm của xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng, đặc biệt là nhóm các đối tượng yếu thế. Từ việc nghiên cứu các khái niệm về trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới và ở Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý được hiểu là hoạt động của các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định nhằm cung cấp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Để hiểu về hoạt động trợ giúp pháp lý cần tìm hiểu về chủ thể thực hiện hoạt động đó, đối tượng mà hoạt động đó hướng đến, hoạt động được 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện bằng các hình thức nào, các lĩnh vực nào và những tính chất, đặc trưng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.
Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. - Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý Theo Luật trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: (i). Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (là đơn vị thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp), các Chi nhánh của Trung tâm. Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: + Tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật theo quy định của pháp luật về luật sư); + Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật).
Trên thế giới, ở tất cả các nước đều tồn tại một hệ thống trợ giúp pháp lý của nhà nước, do Nhà nước cấp kinh phí hoạt động và chịu trách nhiệm báo cáo trước Nhà nước về hoạt động của mình.