Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Tây Sài Gòn. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Tây Sài Gòn. SVTH: NGUYỄN THỊ THU NGA LỚP: 10DQTC05 GVHD: THS.
TRẦN THỊ CẨM HÀ 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG, HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NHTM. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại. Theo luật ngân hàng Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay nghiệp vụ tài chính”.
Theo pháp lệnh ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các tổ chức tín dụng công bố ngày 26/12/1997, luật sửa đổi bổ sung năm 2003 và một số điều luật của tổ chức tín dụng: “NHTM là loại hình tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi”. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM nhưng gộp chung lại có thể hiểu tổng quát: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức doanh nghiệp có tư cách nhân hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động huy động vốn này và vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác trong nền kinh tế”. Ngân hàng thương mại quốc doanh là ngân hàng thương mại được thành lập 100% vốn ngân sách nhà nước.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau: SVTH: NGUYỄN THỊ THU NGA LỚP: 10DQTC05 GVHD: THS. TRẦN THỊ CẨM HÀ 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.
Nghiệp vụ huy động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới mọi hình thức khác nhau nhu huy dộng dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng được mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Do đó, các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiệp vụ sử dụng vốn Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất.
Ngân hàng tiến hành cho vay: Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. Theo thống kê, nhìn chung khoảng 60% - 75% thu nhập của ngân hàng từ các hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại của một ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: cho vay theo mục đích, theo hình thức bảo đảm, theo kỳ hạn, nguồn gốc và theo phương pháp hoàn trả… Ngân hàng tiến hành đầu tư: Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế.
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành là: SVTH: NGUYỄN THỊ THU NGA LỚP: 10DQTC05 GVHD: THS. TRẦN THỊ CẨM HÀ 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác… - Đầu tư mua trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nghiệp vụ ngân quỹ Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố mà chúng ta cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó chính là tính an toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về sự trữ bắt buộc do Trung ương đề ra.
Nghiệp vụ khác Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hợp hàng hóa và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, các NHTM còn tiến hành môi giới, mua bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lí phát hành chứng khoán cho các công ty.
Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ… 1. Tổng quan về họat động tín dụng ngân hàng. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng đuợc coi là quan hệ vay muợn lẫn nhau giữa nguời có vốn và nguời thiếu vốn với điều kịên phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền hoặc bằng hiện vật, tài sản giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là nguời đi vay vừa là nguời cho vay.
SVTH: NGUYỄN THỊ THU NGA LỚP: 10DQTC05 GVHD: THS. TRẦN THỊ CẨM HÀ 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Với tư cách là nguời đi vay: Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu… để huy động vốn trong xã hội. Với tư cách là nguời cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp và tổ chức cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Chức năng của tín dụng ngân hàng Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ: Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng.
Tín dụng dụng được xem như chiếc cầu nối giữa nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế, hay nói cách khác: - Ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập trung những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. - Ở khâu phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân và cho cả ngân sách của địa phương lẫn trung ương. Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội: Tín dụng tạo điều kiện thay thay thế tiền kim loại, tiền giấy bằng các phương tiện chi trả khác như kỳ phiếu, giấy bạc ngân hàng, séc,… Từ đó làm giảm bớt chi phí về in ấn, phát hành và bảo quản. Tín dụng còn tạo điều kiện ra đời loại tiền ghi sổ, điều này trực tiếp tiết kiệm khối lượng tiền mặt cần phát hành và lưu thông.
Mặt khác, khi công tác thanh toán không dùng tiền mặt phát triển các doanh nghiệp tập trung dữ liệu tiền mặt vào tài khoản ngân hàng. Do đó doanh nghiệp sẽ làm giảm chi phí bảo quản và cất giữ tiền tại doanh nghiệp. Tín dụng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ về lưu chuyển tiền tệ. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế, kiềm chế lạm phát: Thông qua kế hoạch huy động vốn và cho vay của ngân hàng sẽ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt như sau: khối lượng tiền tệ trong xã hội, nhu cầu về vốn của nền kinh tế và ổn định chính sách tiền tệ.
SVTH: NGUYỄN THỊ THU NGA LỚP: 10DQTC05 GVHD: THS. TRẦN THỊ CẨM HÀ 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng có cái nhìn tổng quát vào cấu trúc tài chính của từng đơn vị vay vốn. Từ đó phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước Thông qua nghiệp vụ trung gian thanh toán hộ, ngân hàng có điều kiện tăng cường vai trò kiểm soát bằng tiền đối với các đơn vị kinh tế.