CHƯƠNG I TONG LUẬN VẺ BAO THANH TOÁN 1. BAO THANH TOÁN 1. Lịch sử bao thanh toán Bao thanh toán (BTT) có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời và phong phú. Bất cứ một nền văn minh nào có hoạt động thương mại đều áp dụng một hình thức nào đó của BTT.
Nhiều chuyên gia cho rằng BTT khởi nguồn từ thời Hammurabi cach day 4. Ciing cd nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc của một trong những loại hình tin dung thương mại lâu đời nhất này xuất phát từ thời đề chế La Mã (Rutberg 1994), nổi bật là việc lần đầu tiên xuất hiện các giao địch mua bán chiết khấu các lệnh phiếu. Vào thế kỷ 14, BTT được sử dụng rất phổ biến ở Anh. Thời điểm đó, công nghiệp dệt may phát triển thịnh vượng.
Công việc của các đơn vị BTT lúc bấy giờ chủ yếu là làm đại lý bán hàng hưởng hoa hồng của các nhà máy dệt. Cụm từ “factor” có gốc từ chữ Latin “farcio” có nghĩa là “người làm việc cho người khác”. Tên gọi của từ này cũng đã phan nào nói lên ý nghĩa lịch sử của BTT như là một dịch vụ đại lý. Ban đầu của BTT là giải quyết các khó khăn và thách thức trong thương mại do sự cách biệt về vị trí địa lý gây nên.
Tuy nhiên, chức năng quan trọng nhất của các đơn vị này vẫn là tổ chức bán hàng cho các nhà máy dệt. Là một mắt xích trong chuỗi phân phối hàng hóa, các đơn vị BTT đảm nhận trách nhiệm marketing và phân phối gồm cung cấp thông tin về nhu cầu của khách hàng, chuẩn bị kho bãi,. để hàng được đưa từ nơi sản xuất, thông qua đơn vị BTT, đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Bên cạnh đó, các đơn vị BTT còn có chức năng tư vấn tài chính cho nhà sản xuất.
Họ sẽ đưa ra lời khuyên cho nhà sản xuất là có nên bán chịu và bán chịu bao nhiêu cho những khách hàng tiềm năng. Họ cũng sẽ đứng ra bảo lãnh với nhà sản xuất về các khoản thanh toán, và hoàn toàn chịu trách nhiệm về mức độ tín nhiệm của người mua. Để tự bảo vệ mình, các đơn vị BTT lập ra một quỹ dự phòng bồi thường cho các trường hợp khiếu nại về chất lượng hàng hóa hay bất cứ tranh chấp nào phát sinh từ các khiếu nại đó. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, các đơn vị BTT còn tài trợ vốn cho các nhà máy dệt dựa trên trị giá lượng hàng hóa bán được.
Cùng với sự bùng nỗ cách mạng công nghiệp, BTT càng tập trung phát triển thêm vào việc cấp tín dụng. Thông qua việc giúp đỡ người bán xác định mức độ đáng tin cậy của người mua và thiết lập hạn mức tín dụng, đơn vị BTT đã thực sự bảo lãnh thanh toán cho những người mua đủ điều kiện. Hoạt động này được gọi là BTT miễn truy đòi và nó rất phổ biến trong thương mại. Hiện nay, các đơn vị BTT tồn tại với nhiều hình thức và quy mô khác nhau.
Nó có thể là một bộ phận của một định chế tài chính hay là một tổ chức do tư nhân sở hữu và điều hành. Số lượng tổ chức BTT bùng nổ nhanh chóng khi lãi suất tăng cao trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước. Việc giao địch với ngân hàng trở nên quá đắt đỏ và thiếu linh hoạt vì có quá nhiều quy định khiến các nhà kinh doanh nhỏ buộc phải tìm nguồn tài trợ khác để mở rộng sản xuất và phát triển. Tuy nhiên, ít ngân hàng có thiện chí giúp đỡ các DN nhỏ nên BTT nhanh chóng trở thành một lựa chọn phổ biến.
Khái niệm bao thanh toán. Theo Công ước BTT quốc tế UNIDROIT 1988 (Unidroit Convention on International Factoring 1988)[25], BTT (factoring) là một đạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng: theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng bằng cách cho vay ứng trước tiền hàng, quản lý số sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng. Theo hiệp hội BTT thế giới FCI (Factors Chain International), BTT là một dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo đõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị BTT (factor) và người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa (seller).
Theo như thỏa thuận, đơn vị BTT sẽ mua lại khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa (buyer) hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor). Ngoài ra, theo một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác, nghiệp vụ BTT được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp một khoản tài trợ ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay bằng tiền mặt để cải thiện đòng ngân lưu của khách hàng đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng. Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và thu hộ. Theo Quy chế hoạt động BTT ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN ngày 06/09/2004 của Ngân hàng nhà nước [8]: BTT là một hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.
Mặc đù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về nghiệp vụ BTT, nhưng nói chung, BTT chính là hình thức tài trợ những khoản thanh toán chưa đến hạn phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Nhờ có sự chuyên môn hóa việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ, công ty mua nợ có thể nâng cao được hiệu suất thu hồi nợ và giảm chỉ phí thu hồi nợ nhờ lợi thế về quy mô. Về phía công ty bán nợ, sau khi bán các khoản phải thu, không phải bận tâm đến việc thu nợ mà chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh. Đặc điểm bao thanh toán BTT là một dịch vụ trọn gói, trong đó một đơn vị BTT sẽ thực hiện tối thiêu hai trong số các chức năng sau đây: † Tài trợ vẫn cho doanh nghiệp.
Đơn vị BTT thực hiện việc tài trợ vốn cho một DN thông qua việc mua lại các khoản công nợ của DN đó. Điều này có nghĩa là đơn vị BTT sẽ trả tiền ngay tức thì khi quyền sở hữu các hóa đơn được chuyển từ người bán sang cho họ. Đối với BTT không truy đòi thì đơn vị BTT không thể yêu cầu người bán hoàn lại những khoản tài trợ này trong trường hợp người mua không thanh toán. Bởi lẽ, khoản tiền mà đơn vị BTT chuyển cho DN không phải là các khoản ứng trước đơn thuần, mà nó được xem là khoản tiền mua đứt món công nợ đó.
Thông qua hình thức này, các DN có thê giải phóng các khoản phải thu từ khách hàng và có điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Cũng có thể hiểu việc tài trợ ở đây theo hướng đơn vị BTT ứng trước một khoản tiền trong trường hợp DN bán hàng đang tạm thời thiếu hụt vốn lưu động dựa trên cơ sở tin tưởng DN này sẽ hoàn trả ngay khi nhận được tiền hàng từ người mua. † Phòng ngừa rủi ro trong tín dụng thương mại. Một trong nhiều nguyên nhân gây nên sự phá sản của các DN là do họ bị chiếm dụng vốn khi các bạn hàng trì hoãn thanh toán các khoản công nợ.
Do đó, việc quản lý rủi ro không được thanh toán trong tín dụng thương mại là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các DN. Các DN có thể hạn chế được rủi ro này khi bán các khoản công nợ của mình cho các công ty chuyên mua bán nợ - mà ở đây chính là các đơn vị BTT. Với nghiệp vụ kinh doanh chuyên nghiệp của mình, các đơn vị này sẽ đứng ra lãnh trách nhiệm và chia sẽ rủi ro với người bán. Bù lại, họ sẽ nhận được lợi nhuận từ việc mua được các khoản công nợ thấp hơn giá trị của chúng.
Sở di các đơn vị BTT có thể thực hiện công việc đầy rủi ro này là vì họ sẽ tiến hành đánh giá mức độ an toàn tín dung của người mua dựa trên những thông tin họ sẵn có và những thông tin về hoạt động thanh toán đã được công bó. † Theo dõi số sách và thu hôi công nợ. Là công ty tài chính đặc thù, các đơn vị BTT mang lại một giải pháp toàn diện cho việc quản lý tài khoản vãng lai cho DN bằng cách một mặt đơn giản hóa hoạt động kế toán của DN, mặt khác xác định các khoản thanh toán và đám bảo thu hồi công nợ từ khách hàng. Ngoài ra, với tính chuyên nghiệp của mình, các đơn vị BTT sẽ phân tích và nhận định một cách toàn diện, từ đó phát hiện ra những điều bất thường để có khuyến cáo kịp thời cho DN.
Chức năng của don vi BTT 1a theo dõi các kỳ hạn thanh toán, kiểm tra các quy định thanh toán, nhắc nhở và cuối cùng là quản lý các khoản nợ khó đòi. Nhờ hệ thống kỹ thuật hiện đại, các đơn vị BTT sẽ thực hiện việc nhắc nhở các khoản nợ qua các thư nhắc nhở tự động, hoặc hệ thống nhắc nhở tự động qua điện thoại, nhờ thế mà rút ngắn dần những khoản nợ chậm trả và tạo dần thói quen cho người mua hàng thanh toán đúng hạn. Phân loại bao thanh toán. Dựa vào những tiêu chí phân loại khác nhau, BTT có thê được phân loại theo phạm vi thực hiện, theo tính chất có truy đòi hoặc miễn truy đòi của khoản tài trợ, hoặc theo tinh chất tài trợ.
† Theo phạm vì thực hiện, có hai loại: BTT trong nước và BTT quốc tế. BTT trong nước là hình thức tài trợ tín dụng cho các DN trong nước, trong đó, đơn vị BTT, thường là các tổ chức tín dụng, sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ người mua hàng, đồng thời cung cấp dịch vụ quản lý số cái cho khách hàng.