CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Giới thiệu Ngân hàng Thương mại (NHTM) 1.1 Khái niệm NHTM Ngân hàng Thương mại (NHTM) là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. [3] Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. ” Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.” Như vậy, có thể nói rằng ngân hàng thương mại là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ h ệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Các loại hình NHTM Tùy theo góc độ tiếp cận, ngân hàng thương mại có thể phân loại như sau: 1.1 Căn cứ vào hình thức sở hữu - Ngân hàng thương mại quốc doanh: là các ngân hàng kinh doanh bằng vốn cấp phát của ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam hiện nay có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm 70% thị phần tín dụng của nền kinh tế là Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã Hội, Ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Về xu hướng thì các ngân hàng này dần dần sẽ được cổ phần hóa. - Ngân hàng thương mại cổ phần: là những ngân hàng hoạt động như công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. - Ngân hàng thương mại liên doanh: có vốn được góp bởi một bên là ngân hàng Việt Nam, và bên còn lại là ngân hàng nước ngoài, có trụ sở đặt tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo vốn và luật pháp nướ c ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam và chi nhánh này hoạt động theo luật pháp Việt Nam. - Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài: là những ngân hàng được thành lập tại Việt Nam bằng vốn của các chủ thể nước ngoài và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.2 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng - Ngân hàng bán buôn: số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng không nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm là rất lớn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng này là các công ty, xí nghiệp quy m ô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty. - Ngân hàng bán lẻ: số lượng sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm thường không lớn, phần lớn ngân hàng này cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc sản xuất với quy mô nhỏ, hộ gia đình.
Vì vậy, khách hàng chủ yếu là cá nhân hoặc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.3 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động - Ngân hàng chuyên doanh: chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong một lĩnh vực nào đó như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu…hoặc một vài nghiệp vụ của ngân hàng, ví dụ như ngân hàng cầm cố bất động sản, ngân hàng đầu tư bất động sản…Do nhu cầu của khách hàng ngày càng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đa dạng nên loại ngân hàng này đang có xu hướng chuyển sang kinh do anh tổng hợp để bảo toàn và thu hút khách hàng. - Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép của một ngân hàng thương mại.2 Các nghiệp vụ của NHTM 1.1 Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sả n 1.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (Nghiệp vụ nợ): là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Các nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ: - Vốn điều lệ: là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật (ở các nước và ở Việt Nam đều có quy định mức vốn pháp định cho mỗi loại hình ngân hà ng).
Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tức là tạo ra cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn được phép sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn, liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt đông kinh doanh khác. - Các quỹ của ngân hàng: được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng (tài chính, trợ cấp mất việc làm), quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác (khen thưởng, phúc lợi)…Ngoài ra, còn có các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như: quỹ khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro,… Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thương mại (thông thường khoảng 70% cơ cấu nguồn vốn). Nguồn vốn huy động gồm có: - Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng (còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán).
- Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức, đoàn thể. - Tiền gửi tiết kiệm của dân cư. - Nguồn vốn huy động qua phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Nguồn vốn đi vay: Trong trường hợp vốn tự có và vốn huy động không đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh, ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các chủ thể sau: - Vay của ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá; cầm cố, tái cầm cố các thương phiếu; vay lại theo hợp đồng tín dụng… - Vay của các ngân hàng thương mại khác qua thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại… - Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… Nguồn vốn khác: Vốn tiếp nhận từ ngân sách Nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án theo kế hoạch tập trung của Nhà nước; vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác, vốn chiếm dụng của khách hàng trong quá trình thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt… 1.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (Nghiệp vụ Có) Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng cho các hoạt động sau: Thiết lập dự trữ: Các ngân hàng thương mại không sự dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những y êu cầu sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của ngân hàng Nhà nước.
- Thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán chuyển khoản của khách hàng. - Chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi. - Đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách h àng. - Thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng… - Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
Cấp tín dụng Bao gồm các nghiệp vụ cho vay (ngắn, trung và d ài hạn); chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá; cho thuê tài chính; bảo lãnh, bao thanh toán… Đầu tư tài chính: Ngân hàng thương mại sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình thức đầu tư nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng. Các hình thức đầu tư tài chính bao gồm: - Góp vốn liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp và các tổ chức tín dụng khác. - Mua chứng khoán và các giấy tờ có giá để hưởng lợi tức và chênh lệch giá. Sử dụng vốn cho các mục đích khác như : mua sắ m thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở ngân hàng, hệ thống kho bãi và các chi phí khác.3 Nghiệp vụ trung gian (Dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác): Đây là các dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí như: dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ uỷ thác, thanh toán không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dùng tiền mặt, quản lý tài sản quý giá, kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tư vấn về tài chính, đầu tư,… Các nghiệp vụ trên của ngân hàng thương mạ i không thể tách rời, độc lập nhau mà chúng có mối quan hệ hỗ tương với nhau trong quá trình kinh doanh của ngân hàng.2 Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản Những hoạt động ngoại bảng (là những giao dịch không được ghi chép trên bảng Cân đối kế toán của ngân hàng) có thể kể ra như: Các hợp đồng bảo lãnh tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết đảm bảo hoàn trả khoản vay của khách hàng cho người thứ ba là người cho vay.
Các hợp đồng trao đổi lãi suất, trong đó ngân hàng cam kết trao đổi các khoản thanh toán lãi của các chứng khoán nợ với một bên khác.