LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh là nói đến vốn bởi vốn là điều kiện để doanh nghiệp có thể đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và đạt hiệu quả cao. Và một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lưu động. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi doanh nghiệp và việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong từng kỳ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh chung đó, Công ty TNHH vật liệu xây dựng ĐôngVinh đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hướng khai thác, huy động vốn vào phát triển kinh doanh và đã đạt được những kết quả nhất định.Tuy nhiên việc sử dụng vốn lưu động cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết như chưa có biện pháp quản trị vốn hàng tồn kho, vốn bằng tiền phù hợp, hiệu suất sử dụng vốn còn chưa cao.
Nhận thức rõ vai trò của vốn lưu động trong quá trình kinh doanh và qua thực tế tìm hiểu tại Công ty TNHH vật liệu xây dựng Đông Vinh, em đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH vật liệu xây dựng Đông Vinh”làm đề tài khóa luận của mình. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa các vấn đề, lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. - Phân tích thực trạng về tình hình hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
SV: Ngô Thị Yến 1 Lớp: ĐHTCNHK12 Khóa luận tốt nghiệp 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH vật liệu xây dựng Đông Vinh giai đoạn 2010 – 2012. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp so sánh, thống kê, tổng hợp số liệu, phân tích để đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH vật liệu xây dựng Đông Vinh.
- Phương pháp tổng hợp:thu thập, tổng hợp số liệu và tài liệu liên quan đến vấn đề hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH vật liệu xây dựng Đông Vinh. - Phương pháp thống kê: dựa vào các số liệu đã tổng hợp được, lựa chọn, sắp xếp, tính toán các số liệu liên quan đến chỉ tiêu cần đánh giá. - Phương pháp so sánh: qua số liệu đã thống kê được tiến hành so sánh về mặt tuyệt đối và tương đối giai đoạn 2010 – 2012. - Phương pháp phân tích: qua số liệu đã thống kê, so sánh đưa ra nhận xét đánh giá về các chỉ tiêu phân tích.
SV: Ngô Thị Yến 2 Lớp: ĐHTCNHK12 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀHIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn lƣu động của doanh nghiệp 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một trong những chủ thểkinh doanh chủ yếu của xã hội. Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu chính là lợi nhuận - cung cấp hàng hóa và dịch vụ- phát triển - trách nhiệm với xã hội.
- Mục tiêu lợi nhuận: doanh nghiệp cần có lợi nhuận để bù đắp chi phí sản xuất, những rủi ro gặp phải để tiếp tục phát triển.Nếu không có lợi nhuận, doanh nghiệp không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâu dài cho họ, cũng như không thể cung cấp lâu dài hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. - Mục tiêu cung cấp hàng hóa và dịch vụ: doanh nghiệp phải cung cấp hàng hóa hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nhằm thu được lợi nhuận. Vì thế mục tiêu này còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội và nhờ thực hiện mục tiêu này mà doanh nghiệp mới có thể tồn tại. Do đó, mục tiêu này cũng cần được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của công chúng và tình hình cạnh tranh trên thị trường.
- Mục tiêu phát triển: trong nền kinh tế đang mở cửa thì phát triển là một dấu hiệu của sự lành mạnh và sự thành công trong hoạt động kinh doanh. Do đó sự phát triển của doanh nghiệp cũng có ý nghĩa góp sức vào sự phát triển mạnh của nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cần tìm cách bổ sung thêm vốn hoặc sử dụng một phần lợi nhuận để đầu tư thêm. - Trách nhiệm với xã hội: cùng với việc kiếm lời, doanh nghiệp đồng thời có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của khách hàng, người cung ứng đầu vào và SV: Ngô Thị Yến 3 Lớp: ĐHTCNHK12 Khóa luận tốt nghiệp những người làm công trong doanh nghiệp, nói rộng ra là quyền lợi của công chúng.
Trách nhiệm đối với xã hội còn ở chỗ hoạt động kinh doanh phải tôn trọng pháp luật và bảo vệ môi trường xung quanh. Ngoài ra còn cần quan tâm đến khuynh hướng tiêu thụ trong các mục tiêu của mình. Khuynh hướng này không trái với quyền lợi của doanh nghiệp xong nó đòi hỏi doanh ngiệp phải luôn đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ bán ra. Các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay bao gồm: - Theo hình thức sở hữu: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp trong khu chế xuất, các loại hình khác.
- Theo lĩnhvực hoạt động: các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ, các doanh nghiệp kinh doanh địa ốc, các nông trại. - Theo quy mô (theo số vốn đầu tư, doanh số, theo số lượng cán bộ công nhân viên) chia thành: doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn. - Theo cấp hành chính: doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương. - Theo loại hàng hóa: doanh nghiệp dược phẩm, thực phẩm, thủy hải sản.
- Theo tính chất hoạt động về kinh tế: doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp tư vấn. Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo… Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. SV: Ngô Thị Yến 4 Lớp: ĐHTCNHK12 Khóa luận tốt nghiệp Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Như vậy, có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội. Cùng với việc phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp và tăng trưởng cao về sản xuất thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp tuy còn rất khiêm tốn nhưng bước đầu có những tiến bộ mang tính đột phá quan trọng. Do chất lượng của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ được nâng lên rõ rệt, mặt hàng phong phú đa dạng, phong cách tiếp thị hấp dẫn nên nhiều nhóm sản phẩm đã dần dần chiếm lĩnh được thị trường trong nước như: hàng may mặc, thực phẩm tiêu dùng, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, các nhóm sản phẩm phục vụ xây dựng, dịch vụ vận tải và nhiều dịch vụ khác. Khối lượng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu tăng nhanh về số lượng, phát triển thêm mặt hàng và thị trường ngày càng mở rộng, trong đó khu vực doanh nghiệp chiếm tỉ trọng quyết định (trên 70% tổng giá trị xuất khẩu), mà vai trò quan trọng là khu vực có đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Mặc dù có những tiến bộ về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở một số mặt được nâng lên, song so với yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế thì doanh nghiệp nước ta còn bộc lộ nhiều yếu kém bất cập như: doanh nghiệp phát triển còn mang nặng tính tự phát, chưa có quy hoạch định hướng rõ ràng. Số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô nhỏ, phân tán đi kèm với công nghệ lạc hậu. Các yếu tố sản xuất kinh doanh không được đáp ứng đầy đủ. Hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh chưa cao.
Thực hiện chính sách với người lao động cần phải được đảm bảo tốt hơn. SV: Ngô Thị Yến 5 Lớp: ĐHTCNHK12 Khóa luận tốt nghiệp 1.2 Khái niệm và đặc điểm về vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm vốn lưu động Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần có ba yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động, có thể nói sản xuất kinh doanh chính là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra hàng hóa dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.