Chương 1: Lý luận chung về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Chương 2: Thực trạng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tỉnh Bình Thuận - Thời kỳ 2001-2005 Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tỉnh Bình Thuận – Thời kỳ 2006-2010 -3- CHUƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ 1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm, phân loại, vai trò về đầu tư: Thuật ngữ “đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hy sinh”. Từ đó, có thể coi “đầu tư” là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.
Theo quan điểm của Chủ đầu tư (người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra thông qua lợi nhuận. Theo quan điểm của xã hội (Quốc gia) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Như vậy, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Các loại hình đầu tư: * Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trị để hưởng lãi suất định trước (gửi tiền tiết kiệm, mua trái phiếu Chính Phủ) hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.
Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. * Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán và người đầu tư với khách hàng của họ. -4- * Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động : người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội.
Đó chính là việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Phân loại đầu tư: * Theo chức năng quản trị vốn đầu tư: có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra. Đầu tư gián tiếp cũng là phương thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư không trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra.
* Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư: có đầu tư phát triển và đầu tư dịch chuyển. Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển có vai trò quan trọng hàng đầu, là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Đầu tư chuyển dịch là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản.
Đầu tư chuyển dịch có ý nghĩa quan trọng trong hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái… hỗ trợ cho hoạt động đầu tư phát triển. * Theo ngành đầu tư: có 4 loại Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (năng lượng, thông tin liên lạc, giao thông, cấp thoát nước…)và xã hội (trường học, bệnh viện, nhà trẻ, cơ sở văn hóa, thể thao giải trí…). Đối với các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển, đi trước một bước, tạo tiền đề để phát triển các lĩnh vực kinh tế khác.
Đầu tư phát triển công nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình công nghiệp. Trong công cuộc phát triển ở nước ta hiện nay theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đầu tư công nghiệp là chính yếu, nhằm gia tăng giá trị sản lượng công nghiệp trong GDP. -5- Đầu tư phát triển nông nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình nông nghiệp. Việt Nam từ điểm xuất phát là một nước nông nghiệp, với lợi thế so sánh trong nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, cho nên đầu tư phát triển nông nghiệp có ý nghĩa chiến lược, lâu dài nhằm đảm bảo an toàn lương thực quốc gia và giá trị sản lượng nông nghiệp hợp lý trong GDP.
Đầu tư phát triển dịch vụ là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình dịch vụ ( thương mại, khách sạn – du lịch, dịch vụ khác…). Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng cao, đầu tư dịch vụ là xu thế phát triển, nhằm gia tăng tỷ trọng giá dịch vụ trong GDP ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. * Theo tính chất đầu tư: có 3 loại Đầu tư mới là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thành các công trình mới. Đầu tư mới đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, trình độ công nghệ và quản lý mới, song nó có ý nghĩa quyết định trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư chiều sâu là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất, dịch vụ, trên cơ sở các công trình đã có sẵn. Đầu tư chiều sâu đòi hỏi ít vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh, công nhân quen tay nghề, bộ máy quản lý quen nghiệp vụ. Hình thức này được ưu tiên đối với các nước đang phát triển, trong điều kiện còn thiếu vốn-công nghệ-quản lý. Tận dụng năng lực sản xuất - dịch vụ là hình thức tận dụng 100% công suất thiết kế của năng lực sản xuất đã có trên quan điểm tiết kiệm và hiệu quả.
* Theo nguồn vốn: vốn trong nước (ngân sách, tín dụng do nhà nước bảo lãnh, doanh nghiệp nhà nước, các nguồn khác) và vốn ngoài nước. Vai trò của đầu tư trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa: Đầu tư là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế, giải quyết quan hệ cung - cầu về vốn trong phát triển, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực mới cho phát triển. Đồng thời, đầu tư giải quyết quan hệ cung cầu về sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, cân đối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng trong xã hội; góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, cải biến bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc điểm về đầu tư: Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời.
Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong đó có -6- yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình này, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn kinh doanh tiến hành hoạt động, từ đó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra sự tăng trưởng và sinh lời này vốn đầu tư được coi là một trong những yếu tố cơ bản.
Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Tuy nhiên, động lực này thường vấp phải những lực cản bởi một số đặc điểm khác. Thứ hai, đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư lớn thường là tất yếu khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế như: xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng , xây dựng các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp lương thực thực phẩm, ngành điện năng… Vì sử dụng một khối lượng vốn khổng lồ, nên nếu sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài với khối lượng vốn lớn và kém hiệu quả thì gánh nợ nước ngoài ngày càng chồng chất vì không có khả năng trả nợ, tình hình tài chính khó khăn sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Các cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Mêhicô và các nước Đông Nam Á vừa qua là những điển hình về tình trạng này. Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một quá trình lao động rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được và thời gian thu hồi vốn đòi hỏi nhiều năm tháng vì sản phẩm XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp.