CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ I/ NHỮNG KHÁI NIỆM 1. Định nghĩa quản lý 1. Khái niệm quản lý Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh … theo lý thuyết hệ thống: “ quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống.” Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đặt tới mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra.
Như vật, nội hàm khái niệm quản lý kinh tế được hiểu như sau: - Quản lý kinh tế là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên. Còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động. Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh … - Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cấu thành hệ thống quản lý.
Một nền kinh tế hay một doanh nghiệp đề xem như một hệ thống với hai phân hệ chủ yếu: Chủ thể quản lý và Đối tượng quản lý. Trong nhiều trường hợp mỗi phan hệ có thể được coi như một hệ thống phức tạp. - Quản lý kinh tế là quá trình lựa chọn và thiếu hế hệ thống chức năng, nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và bảo đảm nguồn nhân lực thông tin, vật chất cho các quyết điịnh quản lý được thực thi. - Mục tiêu của quản lý kinh tế là huy động tối đa các nguồn lực, mà trước hết là nguồn lực lao động và sử dụng hiệu quả để phát triển kinh tế phục vụ lợi ích con người.
Nội dung của quản lý kinh tế. Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau.Những loại công việc quản lý nay mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn quá hoạt động quản lý. Đó có thể coi là những nhiệm vụ mà quản lý cần làm và cũng là nội dung của chức năng quản lý. Phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: Các nhà quản lý phải thực hiện những công việc gì trong quá trình quản lý, cũng là để hiểu rõ nội dung của chức năng quản lý.
Sinh viên Nguyễn Thị Thúy Nhung – QTTN102 Page 8 Khóa luận tốt nghiệp Đại học dân lập Hải Phòng Hiện nay, các chức năng quản lý thường được xem xét theo hai cách tiếp cận. Nếu xét theo quá trình quản lí thì nội dung quản lý có thể hiểu là: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. - Hoạch định: là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản trị, bao gồm: xác nhận mục tiêu, xây dựng chiến lược tổng thể, thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp hoạt động. - Tổ chức: bao gồm việc xác định những việc phải làm, những ai sẽ phải làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp với nhau như thế nào, những bộ phận nào cần phải được thành lập, quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó, và hệ thống quyền hành trong doanh nghiệp.
- Chỉ huy: công việc trong doanh nghiệp cần phải có người thực hiện. Đáp ứng yêu cầu đó, nhà quản trị phải tuyển chọn, thu dụng, bố trí, bồi dưỡng, sử dụng, động viên, khuyến khích. Việc thiết lập quyền hành và sử dụng quyền hành đó để giao việc cho nhân viên, ra nội quy, quy chế làm việc, ủy quyền cho thuộc cấp, động viên nhân viên. là chức năng thứ 3 của nhà quản trị.
- Phối hợp: chức năng này bao gồm: phối hợp theo chiều dọc, là phối hợp giữa các cấp quản trị và phối hợp theo chiều ngang là phối hợp giữa các chức năng, các lĩnh vực quản trị. - Kiểm tra: chức năng cuối cùng của nhà quản trị. Công tác kiểm tra bao gồm việc xác định thu thập thông tin về thành quả thực tế, so sánh thành quả thực tế với thành quả kỳ vọng, và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm đảm bảo tổ chức đang đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu. Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức thì những lĩnh vực của quản lý gắn liền với các hoạt động sau: - Lĩnh vực vật tư: Nhiệm vụ gồm: Phát hiện nhu cầu vật tư Tính toán vật tư tồn kho Mua sắm vật tư Nhập kho và bảo quản Cấp phát vật tư - Lĩnh vực sản xuất: gồm toàn bộ các hoạt động có tính chất công nghiệp trên cơ sở phối hợp các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động đã có để chế biến các sản phẩm hàng hóa và thực hiện các dịch vụ.
Nhiệm vụ gồm: Hoạch định chương trình Xây dựng kế hoạch sản xuất Điều khiển quá trình chế biến Kiểm tra chất lượng Giữ gìn bản quyền, bí quyết, kiểu dáng. và phát huy sáng chế phat minh của mọi thành viên. - Lĩnh vực marketing: gồm các nhiệm vụ: Sinh viên Nguyễn Thị Thúy Nhung – QTTN102 Page 9 Khóa luận tốt nghiệp Đại học dân lập Hải Phòng Thu thập các thông tin về thị trường Hoạch định chính sách sản phẩm Hoạch định chính sách giá cả Hoạch định chính sách phân phối Hoạch định chính sách hỗ trợ tiêu thụ - Lĩnh vực nhân sự bao gồm các nhiệm vụ: Lập kế hoạch nhân sự Tuyển dụng nhân sự Bố trí nhân sự Đánh giá nhân sự Phát triển nhân viên (đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt)Thù lao Quản lý nhân sự thông qua hồ sơ dữ liệu nhân sự, qua thống kê hoạt động của nhân viên và hỗ trợ đời sống. - Lĩnh vực tài chính và kế toán bao gồm các nhiệm vụ: +Lĩnh vực tài chính: Tạo vốn Sử dụng vốn Quản lý vốn (chủ yếu là quản lý sự lưu thông, thanh toán và các quan hệ tín dụng) +Lĩnh vưc kế toán: Kế toán sổ sách Tính toán chi phí – kết quả Xây dựng các bảng cân đối Tính toán lỗ lãi Các nhiệm vụ khác như: thẩm định kế hoạch, thống kê, kiểm tra việc tính toán, bảo hiểm, thuế.
- Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển bao gồm các nhiệm vụ: Thực hiện các nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng dụng Đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng Thẩm định hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng - Lĩnh vực tổ chức và thông tin bao gồm các nhiệm vụ: + Lĩnh vực tổ chức Tổ chức các dự án Phát triển và cải tiến bộ máy tổ chức cho doanh nghiệp Tổ chức tiến trình hoạt động cho toàn bộ doanh nghiệp + Lĩnh vực thông tin Xây dựng kế hoạch về các thông tin liên quan cho doanh nghiệp Chọn lọc và xử lý các thông tin Kiểm tra thông tin và giám sát thông tin - Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ chung: Thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh nghiệp Sinh viên Nguyễn Thị Thúy Nhung – QTTN102 Page 10 Khóa luận tốt nghiệp Đại học dân lập Hải Phòng Tổ chức các hoạt động quần chúng trong doanh nghiệp Các hoạt động hành chính và phúc lợi doanh nghiệp Sự phân chia trên đây chỉ mang tính khái quát, trên thực tế, quản lý , các lĩnh vực được tiếp tục chia nhỏ nữa cho đến các công việc, nhiệm vụ quản lý cụ thể. Chúng ta chỉ xem xét những đặc điểm mà ở đó quản lý ở một doanh nghiệp được phân biệt với quản ký ngành, quản lý kinh tế quốc dân. Theo đó hquản lý ở một doanh nghiệp mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, quản lý ở doanh nghiệp có tính đơn điệu, bộ phận. Nó thể hiện phạm vi quản lý chỉ nằm trong pgạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp, nhiệm vụ quan trọng là giải quyết những vấn đề kinh tế vi mô.
Lợi ích của doanh nghiẹp là cơ sở so sánh đánh giá sử lý những vấn đề kinh tế.Một điều nữa là quản lý ở doanh nghiệp không đòi hỏi tính phối hợp đa phương đa chiều, nhièu cơ quan như quản lý quốc dân mà nó chỉ hạn chế trong doanh nghiệp và những đối tác chủ yếu. Thứ hai, quản lý trong doanh nghiệp phục tùng quản lý nhà nước. Các nhà quản lý hướng hoạt động của các doanh nghiệp theo những mục tiêu của mình nhưng dựa trên những khung pháp lý của nhà nước đã thiết lập, đó là cơ sở hoạt động. Thứ ba, tính phức hợp hạn chế.Nó thể hiện ở đối tượng quản lý hạn chế, mục tiêu hữu hạn và hình thức tác động đơn giản.
Điều đó dẫn tới bộ máy quản lý trong doanh nghiệp đơn giản hơn và ít bị chi phối bởi quan hệ kinh tế đối ngoại. Thứ tư, quản lý trong doanh nghiệp lấy mực tiêu phát triển kinh tế, gia tăng giá trị và lợi nhuận là chủ yếu.Đại đa số các doanh nghiệp được sinh ra bởi mục đích sinh lời và quản lý phải hướng tới mục tiêu đó, lợi nhuận, giá trị gia tăng là thước đo cuối cùng cho hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó có những doanh nghiệp của nhà nước được thực hiện chức năng sản xuất, kinh doanh hàng hoá công cộng phục vụ lợi ích của đại chúng, hoặc tham gia điều tiết kinh tế vĩ mô. Cá doanh nghiệp đó hướng tới mục tiêu tổng thể hiệu quả kinh tế xã hội.
Cuối cùng, quản lý kinh tế trong doanh nghiệp là quản lý đơn mục tiêu. Tính đơn mục tiêu theo nghĩa hẹp đó là quản lý chỉ hướng tới một mục tiêu chính yếu nào đó thường là kợi nhuận, nhưng xét theo nghĩa rộng, tức là với một số mục tiêu quản lý trong doanh nghiệp chỉ can nhắc và hướng vào mục tiêu ưu tiên. Trong khi đó quản lý kinh tế quốc dân mang tính đa mục tiêu: Phúc lợi, an sinh xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế, văn hoá, môi trường… 3. Chức năng của quản lý.