CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC VẬN HÀNH CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Khái quát chung về công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi 1.1 Khái quát về công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng Công tác quản lý khai thác vận hành công trình là gì? Công tác quản lý khai thác vận hành công trình là sự tác động có tổ chức của đơn vị quản lý đối với các hoạt động khai thác công trình nhằm mục đích sử dụng tiềm năng và lợi thế của công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, duy trì trạng thái kỹ thuật và không gian kiến trúc của công trình. Trong Luật xây dựng 50/2014/QH13 đã quy định về hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. [1] Như vậy, nội hàm của hoạt động xây dựng là các công việc xuyên suốt từ chủ trương đầu tư đến kết thúc tuổi thọ công trình. Thông thường, một vòng đời khép kín của một dự án đầu tư xây dựng, bắt đầu từ khi có ý tưởng ban đầu đến khi thành hiện thực, thông thường phải trải qua sáu giai đoạn cơ bản như sau: 1.
Nghiên cứu lập dự án; 2. Thực hiện các bước thiết kế; 3. Thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị công nghệ; 4. Vận hành và hoàn chỉnh; 5.
Đưa vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì; 6. Tháo dỡ, phá bỏ công trình khi hết tuổi thọ thiết kế. Do đó, công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng là một hoạt động không thể tách rời trong các hoạt động xây dựng. Ở Việt Nam cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, là sự ra đời của những công trình xây dựng lớn mới được xây dựng như: các tòa nhà cao tầng, các công trình giao thông, công trình cấp nước, công trình thủy lợi, thủy điện.
cùng với hệ thống các công trình cũ đã được xây dựng đang góp phần quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Nếu trước đây, công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng chưa được quan tâm chú trọng đúng mức. Thì trong những năm gần đây, công tác quản lý khai thác vận hành công trình đã được Nhà nước thực sự quan tâm, và đã trở 4 thành nội dung quan trọng trong chiến lược quản lý tài sản, bằng việc ra đời của hàng loạt các cơ sở pháp lý và kỹ thuật từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và khai thác, bảo trì công trình, nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng. Công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 sông dài trên 10 km) tạo nên nguồn tài nguyên nước phong phú với tổng lượng dòng chảy trên toàn lãnh thổ ước tính 850 tỷ m3.
Hơn 62 tỷ m3 nước được trữ lại tròn khoảng gần 7.000 hồ chứa để tiều tiết, cấp nước cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Cho đến nay, ngành thủy lợi phục vụ cho nông nghiệp là một trong những ngành sử dụng nước lớn nhất Việt Nam, khai thác nước phục vụ tưới vượt qía 65,5 tỷ m3 mỗi năm (chiếm khoảng 80% tổng lượng nước sử dụng). Trong nhiều năm qua, chính phủ đã quan tâm đầu tư cho công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu.648 hồ chứa nước thủy lợi các loại đã được xây dựng, trong đó: số hồ có dung tích từ 10 triệu m3 trở lên có 103 hồ, dung tích từ 3 đến 10 triệu có 152 hồ, dung tích dưới 3 triệu m3 có 6.[2] Hệ thống thủy lợi, hiện nay, cả nước đã xây dựng được gần 100 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, trong đó có 1.967 hồ chứa có dung tích chứa trên 0,2 triệu m3, tổng dung tích trữ 24,8 tỷ m3, tổng năng lực thiết kế tưới đạt khoảng 505.000 ha; năm 2003 cả nước có khoảng 5164 trạm bơm lớn đến nay số trạm bơm là trên 10 nghìn trạm (Q = 24,8 triệu m3/h), trong đó trên 2 nghìn trạm bơm lớn; 1.000 km kênh trục lớn, 5.000 cống tưới, tiêu lớn, 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh. Các hệ thống có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp.
[3] Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì. Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau : - Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ. 5 + Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập dâng, hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông. Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn.
Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn 30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh. + Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399 km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển và cửa sông.[4] - Vùng Đồng bằng sông Hồng + Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500 cống, 1.700 trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh hoạt. + Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm: 2.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông. Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại.
Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội có mức nước thiết kế +13,4m.[4] - Vùng Bắc Trung bộ + Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ. Tổng diện tích tưới thiết kế là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng. Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được 35. 6 + Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và ven biển đã có đê chống lũ và ngăn sóng, triều.
Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh có 512 km đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông. Đê sông Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P > 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn và lũ muộn (P >10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu.[4] - Vùng Duyên hải Nam Trung bộ + Tưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập dâng, 32 hồ chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ. Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106. + Phòng tránh bão lũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí sản xuất tránh lũ chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ hè-thu.
Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km.[4] - Vùng Tây Nguyên +Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho 34.224 ha lúa Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê. Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có 150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có 165 công trình, tưới cho 11.650 ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc có 476 công trình, tưới cho 9.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê. + Công trình chống lũ: chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê nhỏ, bờ bao chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ. - Miền Đông Nam bộ + Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi dụng tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm.
Công 7 trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm Cỏ khoảng 10 m3/s. Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta. Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km. Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê.
Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000 m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP. Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh).