CHƯƠNG I TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN PHỐI NƯỚC Ở HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG 1.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu về các giải pháp phân phối nước trên thế giới 1.1 Các kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả phân phối nước Hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi liên quan đến nhiều yếu khác nhau, như mô hình quản lý, điều kiện khí hậu, các yếu tố xã hội, cho nên nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượng sản phẩm nông nghiệp, hoặc thậm chí một vài chỉ tiêu khác nữa cũng không thể đánh giá đầy đủ được hiệu quả tưới của hệ thống. Để đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ nông cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá một cách toàn diện, khách quan hiệu quả tưới của công trình thuỷ lợi. Hiệu quả hoạt động của các hệ thống thuỷ nông cần được đánh giá một cách chính xác để khẳng định được hiệu quả hoạt động, tìm ra nguyên nhân tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống công trình thuỷ lợi. Hoạt động của hệ thống thuỷ lợi liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội của người dùng nước.
Có nhiều ý kiến đưa ra định nghĩa về quản lý tưới, trong đó định nghĩa của Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) được nhiều người biết đến là: "Quản lý tưới là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu cho một hệ thống tưới, từ đó thiết lập nên các điều kiện thích hợp, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác động xấu nào ". Tiến sĩ Mark Svedsen cho rằng không có bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức năng làm việc quá một vài năm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cấp nó". Sự thành công của hệ thống thuỷ lợi cần cả hai yếu tố "Phần cứng" và "Phần mềm". Phần cứng ở đây gồm công trình đầu mối, hệ thống kênh mương, công trình điều tiết và các trang thiết bị, còn phần mềm là công tác quản lý hệ thống thuỷ nông.
Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) định nghĩa: “Hiệu quả tưới của hệ thống là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống đó”. Theo Murray Rust và Snellen (1993) thì hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý là: (1) Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21 5 mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đó và (2) hiệu quả có được do hoạt động của các tổ chức toàn quyền sử dụng những nguồn lực của mình. Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) định nghĩa: “Hiệu quả tưới của hệ thống là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống đó”. Theo Murray Rust và Snellen (1993) thì hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý là: (1) mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đó và (2) hiệu quả có được do hoạt động của các tổ chức toàn quyền sử dụng những nguồn lực của mình.
Vào những năm gần đây, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình quản lý thuỷ nông để tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả cuả các công trình thuỷ lợi rất được quan tâm. Đối với hệ thống thuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượng sản phẩm nông nghiệp thu được khi có tưới hoặc không tưới, hoặc thậm chí một vài chỉ tiêu khác nữa cũng không thể đánh giá đầy đủ được công tác vận hành của hệ thống. Chuyên gia về môi trường có thể quan tâm đến dòng chảy trên sông, kênh và ngăn chặn sự suy giảm khối lượng và chất lượng nước trong khi chuyên gia xã hội có thể quan tâm nhiều về vấn đề xã hội; Chuyên gia kinh tế có thể chỉ quan tâm đến hiệu quả đầu tư, trong khi nhà nông học có thể tập trung vào năng suất cây trồng trên mỗi hecta. Tuy nhiên, nếu chúng ta tập chung vào đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý công trình và chất lượng dịch vụ cung cấp tưới thì chúng ta có thể nhận thấy một cách khái quát hiệu quả hoạt động của các mô hình quản lý thuỷ nông trong những điều kiện khác nhau.
Việc đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp tưới là rõ ràng vì nó đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ lợi, song việc đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý cũng rất cần thiết vì việc nâng cao hiệu quả tưới ở các công trình thuỷ lợi là do yếu tố mô hình quản lý (thể chế/chính sách) quyết định hơn là yếu tố kỹ thuật. Các nhà nghiên cứu ngoài nước và trong nước đã đề xuất, xây dựng, kiểm nghiệm hệ thống chỉ tiêu đánh hiệu quả hoạt động của một hệ thống thuỷ nông, Tại Hội thảo quốc tế vùng Châu Á Thái Bình Dương về nâng cao hiệu quả khai thác công trình thuỷ lợi được tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 5/1994 đã nhất trí Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21 6 các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước của hệ thống thủy lợi bao gồm: (i) Hiệu quả vận chuyển nước ở các cấp kênh, (ii) Hiệu quả phân phối nước và (iii) Bồi lắng và cỏ rác. Kloezen và Carlos Garces-Restrepo (1998) đề xuất việc áp dụng các chỉ tiêu đánh giá cho các quy mô khác nhau trong hệ thống thuỷ nông như Bảng 1. Áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới Kênh Mặt Chỉ tiêu đánh giá Hệ thống nhánh ruộng Chỉ tiêu so sánh Hệ số cấp nước tương đối V v v Hệ số cấp nước tưới tương đối V v x Khả năng cấp nước V v x Chỉ tiêu quá trình Hiệu quả tưới (chuyển nước, phân phối V v v nước, sử dụng nước mặt ruộng, hiệu quả hệ thống) Độ tin cậy cuả việc phân phối nước V v v Công bằng trong phân phối nước X v x Độ chính xác trong phân phối nước V v v Chú thích: v = áp dụng, x = không áp dụng Nguồn: Kloezen và Carlos Garces-Restrepo (1998) Bos và các cộng sự (1994) phân loại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ lợi thành 3 nhóm cơ bản, phản ánh tương đối toàn diện các khía cạnh khác nhau bao gồm: Hiệu quả cung cấp nước, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó hiệu quả cung cấp nước là nhóm chỉ tiêu liên quan đến nhiệm vụ cơ bản của người quản lý thuỷ lợi từ lấy nước, phân phối nước từ nguồn nước tới mặt ruộng bằng cách quản lý các công trình thuỷ lợi.
Các chỉ tiêu đánh giá được một số khía cạnh của nhiệm vụ này như hiệu quả tưới, mức độ hiệu quả của các công ty thuỷ nông vận hành các công trình thuỷ lợi và các khía cạnh về hiệu quả phân phối nước như là độ chính xác và mức độ công bằng. Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21 7 - Các tiêu chí đánh giá theo hiệu quả tưới: Hiệu quả tưới là chỉ tiêu phản ánh điều kiện thuỷ lực của hệ thống theo không gian trong một thời đoạn nào đó. Những chỉ tiêu cơ bản xác định hiệu quả tưới bao gồm 4 loại chỉ tiêu sau: Hiệu quả tưới hệ thống = Yêu cầu tưới của cây trồng Tổng lượng nước vào hệ thống Hiệu quả chuyển nước = Tổng lượng nước vào hệ thống kênh Tổng lượng nước vào hệ thống Hiệu quả phân phối nước = Tổng lượng nước cấp vào ruộng Tổng lượng nước vào hệ thống kênh Hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng = Yêu cầu tưới của cây trồng Tổng lượng nước cấp vào ruộng Hiệu quả sử dụng nước tưới = Hiệu quả sử dụng nước tưới thực tế Hiệu quả sử dụng nước yêu cầu -Các tiêu chí đánh giá theo hiệu quả phân phối nước: Bình quân HQPPN của 25% tốt nhất hệ thống Phân phối nước công bằng = Bình quân HQPPN của 25% kém nhất hệ thống Bình quân HQPPN của 25% đầu kênh Công bằng đầu cuối = Bình quân HQPPN của 25% cuối kênh Tỷ số hiệu quả phân phối nước càng gần 1 thì độ công bằng phân phối nước của hệ thống càng tốt. Trường hợp chỉ tiêu hiệu quả phân phối nước được tính toán cho nhiều khu tưới khác nhau, các giá trị hiệu quả phân phối nước đều giống nhau chứng tỏ sự phân phối nước công bằng trong hệ thống thuỷ lợi.
Chỉ tiêu so sánh hiệu quả phân phối nước đầu-cuối kênh được đánh giá mức độ công bằng của việc phân phối nước trong một hệ thống thuỷ lợi. Hiệu quả phân phối nước được tính bằng tỷ số giữa lượng nước thực tưới so với lượng nước thiết kế tại đầu các kênh nhánh cung cấp nước tưới cho nhiều khu tưới khác nhau trong hệ thống thuỷ lợi. Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21 8 Viện nghiên cứu nuớc quốc tế (IWMI) đề xuất 9 chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ lợi cũng như hệ thống nông nghiệp có tưới về thuỷ lực, nông nghiệp, kinh tế, tài chính và môi trường (1998). Nhóm chỉ tiêu về phân phối nước gồm có 3 chỉ tiêu: (1) Hệ số cấp nước tương đối; (2) Hệ số cấp nước tưới tương đối và (3) Khả năng phân phối nước.
Hệ số cấp nước tưới tương đối được xác định đảo nghịch với hiệu quả tưới. Cả 2 hệ số cấp nước tương đối và cấp nước tưới tương đối biểu thị mối liên quan giữa lượng nước cấp và lượng nước yêu cầu cho thấy nguồn nước tưới là dồi dào hay khan hiếm và mức độ đáp ứng đáp ứng nhu cầu tưới của đồng ruộng Bảng 1.2 Kết quả các chỉ tiêu so sánh ở hệ thống Alto Rio Lernma và 2 tiểu khu tưới Cortaza và Salvatierra Alto Rio Alto Rio Salvatierra Loại công trình Vụ Lernma Lernma Khai thác nước mặt Hệ số cấp nước tương Đông 1995-96 2.0 Hệ số cấp nước tưới Đông 1995-96 2.8 tương đối Mùa 1996 0.0 Khả năng cấp nước Đông 1995-96 4.6 Giếng ngầm Hệ số cấp nước tương Đông 1995-96 2.3 Hệ số cấp nước tưới Đông 1995-96 2.2 tương đối Mùa 1996 0.7 Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21 9 1.