Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chương II: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. - Chương III: Thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cửa cuốn và phụ kiện của công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh. - Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh hoạt động nhập khẩu cửa cuốn và phụ kiện của công ty. Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn tới ban giám đốc, phòng kinh doanh của công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong thơi gian thực tập.
Do điều kiện thời gian hạn hẹp, kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài của em còn nhiều thiếu sót. Nhưng em hy vọng rằng nó có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu nói riêng cũng như hiệu quả kinh doanh nói chung của công ty, để công ty có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra. Em cũng xin chân thành cảm ơn thạc sỹ Nguyễn Duy Đạt – người đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành được đề tài này. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2.
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp 2. Khái niệm HQKD, HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp 2.Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanh nghiệp theo đuổi. Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó mang lại nhiều đồng lợi nhuận nhất.
Muốn đạt được điều đó, các doanh nghiệp không ngừng đầu tư cho nghiên cứu thị trường, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiến sản phẩm, cắt giảm chi phí sản xuất cũng như các chi phí liên quan…. Tất cả những điều đó, nói một cách khác là sắp xếp, sự hợp lý hoá quá trình sản xuất kinh doanh. “Hiệu quả kinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mức độ hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật ngữ “hiệu quả kinh doanh” này.
Có thể kể đến một số quan điểm sau đây: Quan điểm thứ nhất cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Quan điểm đã thể hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh là như nhau nếu các hoạt động kinh doanh cùng mang lại một mức doanh thu. Có thể thấy, trên thực tế để mang lại cùng một mức doanh thu nhưng doanh nghiệp phải có sự đầu tư khác nhau cho các hoạt động khác nhau.
Mức đầu tư đó chính là chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu. Chưa phản ánh được điều này chính là hạn chế của quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh. Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này đã thể hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí.
Nó phản ánh được trình độ sử dụng đồng vốn tăng thêm của doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp doanh nghiệp ra quyết định có nên đầu tư mở rộng hoạt động đó hay không. Mặc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dù vậy, quan điểm này vẫn còn hạn chế nhất định, đó là việc nó mới chỉ phản ánh mối liên hệ giữa chi phí và doanh thu bổ sung mà chưa phản ánh được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí ban đầu. Mà trên thực tế, ban đầu doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu tư tới một ngưỡng nhất định mới có thể có doanh thu bước đầu. Với những đầu tư ban đầu, quan điểm về hiệu quả kinh doanh ở trên chưa phản ánh được trình sử dụng chúng.
Quan điểm thứ ba cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có thể có được kết quả đó”. Quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chính là lợi nhuận thu được từ hoạt động đó. So với hai quan điểm trên, quan điểm này đã phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm này cho thấy, với những hoạt động khác nhau, với cùng một lượng vốn bỏ ra mà thu về cùng một lượng giá trị thì các hoạt động kinh doanh đó đã có hiệu quả như nhau. Nhưng trên thực tế, điều này là không chính xác. Quan điểm về hiệu quả kinh doanh này chưa thể hiện được vai trò của các yếu tố khác như thời gian thu được kết quả, quy mô hoạt động… Đây cũng chính là hạn chế của quan điểm này. Quan điểm thứ tư cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh mối liên hệ giữa sự vân động của kết quả với sự vận động cửa chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó, đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất”.
Về cơ bản, quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất về hiệu quả kinh doanh giữa doanh thu và chi phí cũng như sự vận động của hai yếu tố này, đồng thời còn phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Tuy vậy, hạn chế của nó là chưa thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội. Với bốn quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh, chúng ta vẫn chưa tìm ra được đáp án chung và chính xác nhất để nói về hiệu quả kinh doanh. Một cách tổng quát, có thể nói rằng: “ Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức độ cao nhất các mục tiêu kinh tế xã với chi phí thấp nhất”.
Nó là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của doanh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan điểm này đã quản ánh được mối liên hệ bản chất giữa việc sử dụng các nguồn lực và kết quả do nó mang lại, đồng thời cũng thể hiện được trình độ sử dụng các nguồn lực cũng như phản ánh được mối liên hệ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội. Trên góc độ nền kinh tế quốc gia, hiệu quả kinh doanh phải phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân và toàn bộ xã hội về cả chất lượng lẫn số lượng. Hiệu quả được xem xét trên cơ sở lợi ích toàn xã hội, làm sao để đạt được mức phát triển lớn nhất với nguồn lực xã hội thấp nhất.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Về cơ bản, dưới góc độ kinh tế đơn thuần hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũng như hiệu quả kinh doanh nói chung. Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp chính là trình độ sử dụng các nguồn lực để nhập khẩu và trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội ở mức độ cao nhất với chi phí nhất định trong quá trình nhập khẩu. Như đã biết, hoạt động nhập khẩu thường sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị hay hàng hóa, góp phần cân đối nền kinh tế. Với đặc điểm này, hiệu quả hoạt động nhập khẩu đã phản ánh cả hiệu quả kinh tế xã hội.
Hoạt động nhập khẩu lúc này đã tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Với doanh nghiệp, hoạt động nhập khẩu đạt hiệu quả khi kết quả thu về là lớn nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất. Đồng thời, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu còn thể hiện trình độ cũng như khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đó. Trên góc độ toàn xã hội, hoạt động nhập khẩu chỉ đạt được hiệu quả khi kết quả thu về từ việc nhập khẩu hàng hóa của nhà cung cấp nước ngoài cao hơn kết quả thu về nếu tiến hành sản xuất hàng hóa đó trong nước, nói cách khác, hoạt động nhập khẩu dạt hiệu quả khi nó góp phần nâng cao hiệu quả xã hội, làm tăng chất lượng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm.
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một phạm trù phức tạp, nó chịu tác dụng của nhiều yếu tố và bao hàm nhiều nội dung hơn. Hoạt động nhập khẩu có hiệu quả phải đồng thời mang lại lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động và đảm bảo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động và đảm bảo mang lại những lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội. Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Dưới nhiều góc độ khác nhau, dựa vào các căn cứ khác nhau người ta có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Dưới đây là một số cách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả Theo căn cứ này, bao gồm hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối. * Hiệu quả tuyệt đối Hiệu quả tuyệt đối là đại lượng thể hiện sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó đối với mỗi phương án kinh doanh, trong từng thời kỳ với từng doanh nghiệp khác nhau. Hiệu quả tuyệt đối được thể hiện qua tương quan chênh lệch của kết quả và chi phí, nói cách khác đó là sự chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Có thể hiểu hiệu quả tuyệt đối qua công thức sau: E = KQ – CF (*) Trong đó: - E: hiệu quả tuyệt đối, là chỉ tiêu trực tiếp đo lường lợi nhuận doanh nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinh doanh.
Hiệu quả tuyệt đối thường được đo bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD,.