Phần mở đầu, vừa để đề xuất một số nội dung có liên quan đến đề tài cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu trong nhiều công trình tiếp theo. Với kết luận này, tác giả hi vọng cung cấp thêm đƣợc những hƣớng nghiên cứu mới trong lúc các nhà khoa học và nhà quản lý vẫn đang tiếp tục hòan thiện hệ thống lý luận và văn bản quản lý cho ngành lƣu trữ ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận đƣợc sự góp ý và dìu dắt tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn là PGS. Vƣơng Đình Quyền.
Tác giả cũng đã nhận đƣợc sự cộng tác và chia sẻ của các cán bộ đang công tác trong ngành lƣu trữ từ Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc đến cán bộ lƣu trữ tại các huyện và tƣơng đƣơng. Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ quan trọng đó. Tác giả cũng gửi lời cảm ơn chân thành và ghi nhận tới các đồng nghiệp và các em sinh viên vì những đóng góp của họ khi trao đổi và góp ý. Do những hạn chế từ phía chủ quan và khách quan, bao gồm cả những khó khăn về địa bàn khảo sát rộng, những biến động về tổ chức lƣu trữ ở địa phƣơng và khó khăn khi tiếp cận các nguồn tƣ liệu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.
Tác giả mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các độc giả, các nhà nghiên cứu nhằm hoàn thiện đề tài trong những nghiên cứu tiếp theo. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI Hà Nội là vùng đất đƣợc hình thành từ sớm, là một trong những đồng bằng thuộc châu thổ sông Hồng – nơi khởi nguồn của nền văn minh lúa nƣớc. Hà Nội bắt đầu trở thành kinh đô của nƣớc Đại Việt khi vua Lý Công Uẩn dời đô về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long năm 1010.
Kinh thành Thăng Long ngày đó có diện tích gần tƣơng ứng với quận Hoàn Kiếm và một phần hai quận Đống Đa, Hai Bà Trƣng ngày nay. Trải qua nhiều thế kỷ dƣới sự cai trị của các vƣơng triều Lý – Trần – Lê, Thăng Long đã có những giai đoạn phát triển phồn thịnh, trở thành một trong những đô thị cổ nhất Việt Nam. Cuối thế kỷ XVIII, Thăng Long đƣợc mở rộng diện tích tƣơng ứng với 4 quận nội thành ngày nay (các quận Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trƣng và quận Ba Đình), đồng thời không giữ vị trí là kinh đô của Triều Nguyễn. Cũng theo chiều dài lịch sử, trải qua các triều đại khác nhau với chính sách quản lý lãnh thổ khác nhau, Thăng Long đã thay đổi vị trí hành chính và đƣợc chia tách, sáp nhập nhiều lần.
Đến năm 1831 -1832, cuộc cải cách hành chính lớn thời Minh Mạng đã chia cả nƣớc thành 30 tỉnh và Phủ Thừa Thiên. Thăng Long đƣợc đổi tên thành tỉnh Hà Nội, trong tỉnh có các phủ và các huyện nhƣng cấp huyện thời Nguyễn khác với huyện ngày nay. Cả Hà Nội thời đó gồm hai huyện Thọ Xƣơng và Vĩnh Thuận. Các huyện thời Nguyễn có diện tích tƣơng đối lớn và chƣa phải là cấp hành chính gần cấp cơ sở nhất, dƣới huyện là các Tổng và trong Tổng có các thôn, trại, phƣờng.
Ví dụ: Thôn Mỹ Đức thuộc Tổng Vĩnh Xƣơng và Thôn Trung Phụng thuộc Tổng Yên Hòa (hai thôn có đoạn phố Khâm Thiên đi qua) nằm trong Huyện Thọ Xƣơng (vùng trung tâm Hà Nội cũ)2. Sau khi xâm lƣợc nƣớc ta, thực hiện chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia cả vùng Đông Dƣơng đƣợc làm 5 xứ, trong đó Việt Nam đƣợc tách 2 Theo Nguyễn Vinh Phúc: 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009, trang 95. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành 3 kỳ, dƣới các kỳ là các tỉnh có vị trí hành chính tƣơng ứng với ngày nay, dƣới kỳ là các tỉnh, trong tỉnh cấp huyện vẫn đƣợc duy trì, bỏ các tổng và đặt thêm cấp xã. Quản lý cấp xã là các “Hội đồng tộc biểu” và “Hội đồng kỳ mục”3, sau đó hai Hội đồng này bị đồng nhất với nhau.
Hội đồng này đã lựa chọn ngƣời giữ chức lý trƣởng, phó lý và các trƣơng tuần để điều hành mọi việc trong xã, trong thôn. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nƣớc Việt Nam mới đã chú trọng xây dựng chính quyền địa phƣơng. Tuy có một vài thay đổi thời gian đầu khi mới bắt đầu hoạt động nhƣng sau khi Hiến Pháp 1946 có hiệu lực, cấp huyện đƣợc xác định là một cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và xã. Cùng với đó, Nhà nƣớc Việt Nam mới cũng đã thiết lập bộ máy ở địa phƣơng với cơ quan dân cử là Hội đồng nhân dân (HĐND) xã có vai trò là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở cả cấp huyện và cấp xã, Ủy ban hành chính (UBHC) huyện là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính và quản lý4.
Ngoài ra, trong thời gian bị địch tạm chiếm (đầu năm 1947 đến 1954), để phù hợp với tình hình mới, chính quyền cấp huyện ở Hà Nội đƣợc tổ chức lại, UBHC đƣợc đổi tên thành Ủy ban kháng chiến – hành chính (UBKC-HC). Việc chia tách và sáp nhập các đơn vị hành chính ở Việt Nam đƣợc diễn ra nhiều lần do hệ quả của chiến tranh và sự thay đổi trong quy định của các bản Hiến Pháp (từ Hiến pháp 1946 đến Hiến Pháp 1992). Tuy nhiên, sự thay đổi này chủ yếu diễn ra ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, còn cấp huyện từ khi đƣợc xác lập theo Hiến Pháp 1946 đến nay về cơ bản không thay đổi vị trí pháp lý. Khi Hiến Pháp 1992 đƣợc sửa đổi, các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã của thành phố trực thuộc trung ƣơng vẫn đƣợc coi là đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và xã.
Quận và huyện đều là đơn vị hành chính có vị trí pháp lý nhƣ nhau nhƣng quận là đơn vị hành chính trong nội thành của các thành phố trực thuộc trung ƣơng nhƣ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,… ; còn huyện là đơn vị hành chính của các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ƣơng. Tƣơng đƣơng với quận và huyện còn có các thị xã và các thành phố trực thuộc tỉnh. Quận và thành phố thuộc tỉnh có tính chất đặc trƣng của đô thị, 3 Theo Vũ Thị Phụng: Giáo trình Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Việt Nam, NXB ĐHQGHN, năm 1997, trang 175,176. 4 Theo Vũ Thị Phụng, đã dẫn, trang 219, 230.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huyện lại có đặc trƣng của nông thôn, còn thị xã là tên gọi của cấp hành chính tƣơng đƣơng quận, huyện nhƣng có tính chất của vùng nông thông bán đô thị với tốc độ đô thị hóa cao. Tuy nhiên, các thành phố và thị xã trực thuộc tỉnh thƣờng là thủ phủ- trung tâm hành chính của tỉnh nên trong một tỉnh thƣờng chỉ có 01 thành phố hoặc thị xã, còn các quận chỉ là đơn vị hành chính trong nội thành, một thành phố có thể gồm nhiều quận. Mặc dù vậy, do thực tế phát triển của các địa phƣơng và tốc độ của quá trình đô thị hóa nên có những địa phƣơng vẫn tồn tại các thị xã mà không phải là thủ phủ của tỉnh, điển hình là Thị xã Sơn Tây. Trƣớc khi đƣợc mở rộng vào năm 2008, Hà Nội có 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.
Tháng 5 năm 2008, Quốc Hội thông qua Nghị quyết về việc mở rộng Hà Nội. Từ tháng 8 năm 2008, Hà Nội mới đƣợc hình thành trên cơ sở sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây cũ cùng 4 xã thuộc huyện Lƣơng Sơn của tỉnh Hòa Bình và huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc. Hà Nội mới bao gồm 10 quận (các Quận Hòan Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trƣng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Hòang Mai, Long Biên và quận Hà Đông), 18 huyện (Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Đông Anh, Ba Vì, Đan Phƣợng, Hòai Đức, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Thanh Oai, Chƣơng Mỹ, Thƣờng Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức và huyện Mê Linh) và thị xã Sơn Tây. Nhƣ vậy, từ một thành phố có đặc thù của một đô thị, Hà Nội mở rộng đã có sự chuyển biến về tính chất với đầy đủ các quận, huyện và thị xã trực thuộc tỉnh nhƣng đơn vị hành chính phổ biến hơn vẫn là các huyện.
Vì thế, cấp huyện sẽ là khái niệm chúng tôi sử dụng sau đây để gọi chung các quận, huyện, thị xã thuộc Hà Nội. Với vị trí là một đơn vị hành chính cấp trung gian, cấp huyện ở Hà Nội cũng đƣợc thiết lập bộ máy nhà nƣớc với đầy đủ ba hệ thống cơ quan: cơ quan quyền lực nhà nƣớc, cơ quan hành chính – hành pháp và cơ quan tƣ pháp. Ngoài các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc, nhiều cơ quan nhà nƣớc khác cũng đƣợc thành lập ở cấp huyện, phối hợp với bộ máy nhà nƣớc trong việc quản lý và triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tổ chức bộ máy nhà nƣớc ở cấp huyện bao gồm những cơ quan sau: 1.
Cơ quan quyền lực nhà nƣớc cấp huyện Cơ quan quyền lực nhà nƣớc cấp huyện là HĐND huyện. “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”5. Với vị trí pháp lý và vai trò là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, HĐND huyện thực hiện hai chức năng cơ bản: một là, quyết định những chủ trƣơng, biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng ở địa phƣơng, làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng đối với nhà nƣớc; hai là, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng trực HĐND, đối với các cơ quan hành chính – hành pháp, cơ quan tƣ pháp cùng cấp, các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lƣợng vũ trang nhân dân và công dân ở địa phƣơng về việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cũng nhƣ việc tuân theo pháp luật. Những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND huyện đƣợc quy định thống nhất tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.