CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BALANCE SCORECARD - BSC) TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VỀ XÂY DỰNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Chiến lược và quản trị chiến lược Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược. Porter (1996) đã phát biểu những quan niệm mới của mình về chiến lược qua bài báo “ What is Strategy?”đăng trên tạp chí Havard Business Review. Ông cho rằng: Thứ nhất, “Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt”. Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc chọn lựa các hoạt động khác với các nhà cạnh tranh, sự khác biệt này có thể là những hoạt động khác biệt so với các nhà cạnh tranh hoặc các hoạt động tương tự nhưng với những cách thức thực hiện khác biệt.
Thứ hai, “chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh”. Điểm cốt lõi là chọn những gì cần thực hiện và những gì không thực hiện. Thứ ba, “chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty”. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hội nhập, hợp nhất của chúng.
Theo Johnson và Scholes (1999), chiến lược được định nghĩa như sau: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thay đổi, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Theo Nguyễn Hữu Lam và cộng sựđịnh nghĩa rằng: “Một cách đơn giản nhất, chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới các mục đích của tổ chức. Như vậy chiến lược được xem là những kế hoạch cho tương lai, tức là những chiến lược được dự định và những hành động được thực hiện, tức là những chiến lược được thực hiện”. 123doc 5 Như vậy, chiến lược có thể được hiểu một cách bao quát nhất được đúc kết từ các khái niệm như sau:Chiến lược là những phương tiện để thực hiện các mục tiêu dài hạn, bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, vị trí chiến lược chỉ có thể được bảo vệ lâu dài khi có sự khác biệt được tạo ra.
Theo Fred (1986), “quản trị chiến lược có thể được định nghĩa là nghệ thuật và khoa học xây dựng, triển khai và đánh giá các quyết định xuyên các chức năng (cross-functional decisions) nhằm giúp tổ chức có thể đạt được mục tiêu”. Theo định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc tích hợp quản trị, marketing, tài chính/kế toán, sản xuất/vận hành, R&D và hệ thống thông tin nhằm mang lại thành công cho tổ chức. Theo Fred (1986), quá trình quản trị chiến lược bao gồm 3 giai đoạn: xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược.1: Mô hình quản trị chiến lược toàn diện. Nguồn: Quản trị chiến lược, Fred, 1986, Trang 15.
123doc 6 Quá trình quản trị chiến lược là năng động và liên tục, một thay đổi trong bất kỳ thành phần chính nào của mô hình có thể đòi hỏi một sự thay đổi trong một hoặc tất cả các thành phần khác. Trên thực tế, những cơ hội thị trường lớn có thể khiến tổ chức thay đổi mục tiêu và chiến lược dài hạn, đối thủ cạnh tranh lớn thay đổi chiến lược đòi hỏi công ty thay đổi sứ mệnh, do đó việc xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược có thể được thực hiện liên tục, quy trình quản trị chiến lược không bao giờ thực sự kết thúc.2 Thực hiện chiến lược kinh doanh Các vấn đề quản trị được coi là trung tâm của thực hiện chiến lược bao gồm thiết lập các mục tiêu hàng năm, đề ra các chính sách, phân bổ nguồn lực, thay đổi cấu trúc tổ chức hiện tại, tái cấu trúc và sản xuất, xem lại các kế hoạch khuyến khích và khen thưởng, giảm thiểu các trở ngại cho sự thay đổi, sắp xếp các nhà quản lý phù hợp với chiến lược, xây dựng văn hoá nhằm hỗ trợ chiến lược, sửa đổi các quá trình sản xuất/ vận hành cho phù hợp, phát triển chức năng nguồn nhân lực một cách hiệu quả, và nếu cần, thu hẹp lại. Những thay đổi quản trị cần thiết phải mở rộng hơn khi chiến lược được thực hiện nhằm đưa công ty đi theo hướng phát triển mới. Thực hiện chiến lược thường được gọi là “giai đoạn hành động” trong quản trị chiến lược.
Thực hiện chiến lược có nghĩa là huy động nhân viên và nhà quản lý để thực hiện hoá các chiến lược đề ra. Thường được coi là giai đoạn khó khăn nhất trong quản trị chiến lược, thực hiện chiến lược yêu cầu cần phải đặt ra kỷ luật, cam kết và hi sinh bản thân. Việc thực hiện chiến lược hiệu quả xoay quanh khả năng khuyến khích nhân viên của nhà quản lý, điều này thiên về nghệ thuật hơn là khoa học. Chiến lược đề ra nhưng không được triển khai thì sẽ không phục vụ cho mục đích hữu ích nào cả.3 Xây dựng thẻ điểm cân bằng trong thực hiện chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) Khái niệm Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 bởi hai giáo sư đại học Harvard là Robert S.
Kaplan và David Norton với mục đích là thúc đẩy và đo lường hiệu quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh. Năm 1990, Kaplan và Norton nghiên cứu một công trình từ 12 công ty nhằm khảo sát các phương pháp mới trong lĩnh vực đo lường hiệu suất. Động lực của cuộc nghiên cứu là đối với các doanh nghiệp kinh doanh hiện đại, các thước đo tài chính đối với hiệu suất không còn hiệu quả nữa. Nhóm nghiên cứu đã thảo luận về nhiều phương pháp khả thi và cuối cùng, đã đúc kết lại với ý tưởng Thẻ điểm cân bằng, với bốn viễn cảnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Đào tạo và phát triển đã giúp cho các nhà quản lý có được bức tranh cân bằng về hiệu quả hoạt động hiện tại cũng như các nhân tố là động lực tăng trưởng cho tương lai.Ngay sau đó, BSC nhanh chóng được hàng ngàn các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận khắp nơi trên thế giới áp dụng trong đó có Việt Nam.2 Thẻ điểm cân bằng – Công cụ hữu hiệu để thực hiện chiến lược kinh doanh Sau quá trình nghiên cứu nhiều công ty áp dụng mô hình BSC, Kaplan và Norton ngày càng nhận ra rằng BSC là một công cụ hữu hiệu để triển khai và giám sát quá trình thực hiện chiến lược.
Để có thể triển khai được chiến lược một cách hiệu quả trong toàn bộ tổ chức, chiến lược phải được cụ thể hoá thành một chuỗi các hoạt động, các hoạt động này được liên kết với nhau bằng mối quan hệ nhân quả. Mối quan hệ này được Kaplan và Norton gọi là bản đồ chiến lược (strategic map). Bản đồ chiến lược đóng vai trò vô cùng quan trọng trong BSC, giúp cho toàn bộ nhân viên trong tổ chức hiểu rõ công việc của họ đóng góp vào mục tiêu chung như thế nào, tạo động lực để nhân viên phối hợp với nhau làm việc, cùng hướng đạt được mục tiêu chung. Trong phạm vi rộng hơn, bản đồ chiến lược chỉ ra cách thức 123doc 8 mà tổ chức sử dụng để biến các hoạt động, các nguồn lực, bao gồm cả các tài sản vô hình như văn hoá của tổ chức và trình độ của nhân viên, thành các kết quả hữu hình.
Vậy, có thể hiểu BSC là một công cụ quản trị, nó giúp cho doanh nghiệp thiết lập, thực hiện, giám sát, nhằm đạt được các chiến lược và các mục tiêu của mình thông qua việc diễn giải và phát triển các mục tiêu chiến lược thành các mục tiêu, chương trình hành động cụ thể dựa trên 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, qui trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Vai trò của thẻ điểm cân bằng trong thực hiện chiến lược được Kaplan và Norton khẳng định trong tác phẩm “Bản đồ chiến lược” (2003), được thể hiện trong hình 1.2 dưới đây: Hình 1.2: Thẻ điểm cân bằng – Công cụ hữu hiệu để thực hiện chiến lược kinh doanh. Nguồn: Bản đồ chiến lược, Kaplan và Norton, 2003, trang 56. Theo Kaplan và Norton (2003), sứ mệnh bao quát của tổ chức hình thành điểm khởi đầu bằng cách xác định lý do tồn tại của tổ chức.
Sứ mệnh và các giá trị cốt lõi kèm theo tồn tại ổn định theo thời gian. Tầm nhìn của tổ chức vẽ nên bức 123doc 9 tranh tương lai của tổ chức nhằm làm rõ định hướng tương lai của nó, đồng thời giúp các cá nhân hiểu được lý do và phương thức cống hiến cho tổ chức. Tiếp đó, chiến lược được phát triển và mở rộng theo thời gian để thích nghi với các điều kiện thay đổi từ môi trường bên ngoài và năng lực bên trong. Sau khi tóm lược ngắn gọn các thông tin cơ bản về việc thiết lập định hướng tầm cao của tổ chức gồm sứ mệnh, tầm nhìn, và chiến lược, lúc này bản đồ chiến lược và thẻ điểm cân bằng sẽ cung cấp những chi tiết cần thiết để làm cho những tuyên bố định hướng của lãnh đạo trở nên có ý nghĩa và khả thi hơn với tất cả nhân viên.3 Cấu trúc thẻ điểm cân bằng Thẻ điểm cân bằng chuyển hoá sứ mệnh và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo được tổ chức thành bốn khía cạnh khác nhau là tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập, tăng trưởng.
Bốn khía cạnh của thẻ điểm cho phép một sự cân bằng giữa những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, giữa những kết quả mong đợi và những nhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động (performance driver) của những kết quả đó, giữa những thước đo khách quan, khó khăn và những thước đo đơn giản hơn, chủ quan hơn.Bốn khía cạnh trong cấu trúc thẻ điểm cân bằng được tác giả tổng hợp bởi hình 1.3 dưới đây: TÀI CHÍNH QUY TRÌNH HỌC HỎI VÀ NỘI BỘ PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG Hình 1.3: Bốn khía cạnh trong cấu trúc Thẻ điểm cân bằng. Nguồn: Tổng hợp của tác giả. 123doc 10 Mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh và bốn khía cạnh trong thẻ điểm cân bằng được Kaplan và Norton phân tích trong tác phẩm “Thẻ điểm cân bằng” (1996) được trình bày trong hình 1.