CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu ngoài nước Có thể nói KSNB đã đem lại lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp, các nhà quản lý trong các cơ quan hành chính sự nghiệp cũng như các nhà quản lý tư nhân, vì vậy việc xây dựng hệ thống KSNB là vấn đề mà hầu hết các các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến. Tại Mỹ vào năm 1992 Ủy ban COSO được thành lập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức : Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA); Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association); hiệp hội quản trị viên tài chính (The Financial Executives Institute – FEI); Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants- IMA); Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (The Institute of Internal Auditor IIA). Một trong những kết quả quan trọng nhất trong hoạt động này đã được ban hành vào năm 1992 [24] của một tập hợp các tài liệu KSNB – tích hợp khuôn khổ bởi COSO. Từ đó mô hình này được biết đến như là một báo cáo KSNB theo COSO.
Năm 2001 COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (ERM) trên cơ sở COSO 1992. Bản dự thảo đã hình thành và được công bố vào tháng 7 năm 2003 [25]. Trong bản dự thảo, ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận : Môi trường nội bộ; thiết lập mục tiêu; nhận diện sự kiện; đánh giá rủi ro; đối phó rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát. Đến năm 2004 ERM được chính thức ban hành, theo đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà chỉ được xem là cánh tay nối dài của báo cáo này.
Đến năm 2013 COSO đưa ra báo cáo về KSNB theo đó hê thống KSNB gồm có 5 yếu tố cấu thành cơ bản và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Trong khu vực công tại Mỹ đã có những công bố chính thức về áp dụng KSNB: Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng Kế toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 2 (1999) ra công bố về KSNB đặc thù trong tố chức lĩnh vực công. GAO cũng đưa ra năm yếu tố về KSNB gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Trên bình diện quốc tế,với vai trò tiên phong trong kiểm toán khu vực công Hệ thống kiểm toán Nhà nước do Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) [23] cũng ban hành hướng dẫn quốc tế về hệ thống KSNB trong khu vực công tương tự cũng như báo cáo của COSO tuy nhiên khía cạnh giá trị đạo đức được nhấn mạnh nhằm ngăn chặn sự gian dối và tham nhũng trong khu vực công.1 Nghiên cứu trong nước Mặc dù đã được Bộ tài chính ban hành các chuẩn mực, thông tư hướng dẫn như: Chuẩn mực kiểm toán 400, Chuẩn mực kiểm toán 315 kèm theo thông tư 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012…Nhưng trên thực tế vai trò của KSNB trong các đơn vị ở Việt Nam, đặc biệt là trong khu vực hành chính công vẫn còn khá mờ nhạt.
Theo tìm hiểu của tác giả cũng đã có một số công trình nghiên cứu về KSNB trong đơn vị hành chính công được đề cập dưới đây: Nguyễn Thị Hoàng Anh (2014), "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao đẳng GTVT Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)", luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. Luận văn đã vận dụng lý thuyết về kiểm soát nội bộ, theo hướng dẫn của INTOSAI 2004 để tìm hiểu, đánh giá những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao đẳng GTVT Tp.HCM từ đó đề ra các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chung của toàn trường chứ không đi sâu vào nghiên cứu và đưa ra giải pháp hoàn thiện chung. Phương pháp nghiên cứu của tác giả là phương pháp định tính, sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng việc thực hiện kiểm soát nội bộ tại trường; sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; trao đổi với lãnh đạo các phòng ban và Ban giám hiệu để định hướng giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường 3 Nguyễn Thị Thu Hậu (2014), "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Bạc Liêu", luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp.
Luận văn đã nêu được cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ ở đơn vị công, đã cập nhật INTOSAI 2013, đưa ra được bài học kinh nghiệm từ các sự kiện có liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong nước ở đơn vị công; tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, quan sát kết hợp phỏng vấn để đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Bạc Liêu với những mặt chưa làm được, tìm ra nguyên nhân tồn tại; từ đó đưa ra được giải pháp đề nghị giải quyết, xây dựng biểu mẫu, tiêu chí cụ thể để ứng dụng ngay cho nhà trường. Phạm Thị Hoàng (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Tp.HCM”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp. Luận văn đã khái quát được lý luận kiểm soát nội bộ theo INTOSAI. Tác giả nghiên cứu dựa trên phương pháp định tính, thông qua khảo sát, thống kê dữ liệu thực tế tại trường kết hợp lý thuyết đã đưa ra được những nhận xét, đánh giá, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường.
Các giải pháp được xây dựng một cách chi tiết, rõ ràng. Bên cạnh đó, luận văn đã thiết lập lại các quy trình kiểm soát còn nhiều thiếu sót, đồng thời thiết lập các quy trình kiểm soát mới phù hợp với yêu cầu quản lý của nhà trường. Tác giả Bùi Thành Huyền (2012), luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc Nhà nước Quận 10 TPHCM”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng được mô hình về hệ thống KSNB tại kho bạc, đánh giá và đưa ra những mặt hạn chế trong KSNB tại Kho bạc quận 10 TP.Hồ Chí Minh.
Trong nghiên cứu này tác giả đã khảo sát tình hình KSNB tại các trường Cao đẳng ngoài công lập trên địa bàn TP HCM. Tuy nhiên hạn chế là tác giả không định lượng được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến HT KSNB tại các trường Cao đẳng ngoài công lập trên địa bàn TP HCM.2 Tổng quan các trường CĐCL trên địa bàn TPHCM Trường CĐCL là đơn vị đào tạo nhân lực cho xã hội, Các trường CĐCL được sự hỗ trợ nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, tuân thủ pháp luật hiện hành, phù hợp với điều lệ trường Cao đẳng, Đại học Việt Nam. Hiện nay trên địa bàn TP HCM có 17 trường Cao đẳng thuộc hệ thống trường công lập. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của các trường CĐ CL thường có gồm: Ban giám hiệu, Các tổ chức Đảng, Đoàn thể và Công Đoàn, Hội sinh viên, Phòng Đào tạo, Phòng quản lý sinh viên, Phòng Quản Trị Cơ sở vật chất, Phòng kế toán - Tài chính, Phòng Thanh tra, Phòng Tổ chức- Hành Chính, Các Khoa, bộ môn Mối quan hệ giữa các bộ phận: - Ban Giám Hiệu: phụ trách chung, chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ Giáo dục và Đào tạo về mọi mặt hoạt động của Nhà trường.
Trực tiếp phụ trách công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị - Các tổ chức Đảng, Đoàn thể và Công Đoàn, Hội sinh viên: Tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện Nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ chỉ thị, Nghị quyết của Đảng. Các đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên có trách nhiệm thực hiện mục tiêu và nguyên lý giáo dục, phù hợp với tôn chỉ mục đích, chức năng, nhiệm vụ của trường, của đoàn thể và hoạt động theo quy định của pháp luật. - Phòng Đào tạo: Phòng Đào tạo có chức năng tham mưu giúp Hiệu trưởng, quản lí, tổ chức, triển khai thực hiện công tác đào tạo, bao gồm kế hoạch, chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy và chất lượng giảng dạy theo quy chế đào tạo của Bộ và quy định của Trường đã ban hành. - Phòng quản lý sinh viên: Tham mưu giúp việc cho Hiệu trưởng trong công tác thực hiện chế độ chính sách của Nhà nước, quy định của Trường liên quan đến học bổng, học phí, khen thưởng, kỷ luật sinh viên; tư vấn sinh viên (học tập, đời sống, chỗ ở, việc làm.); Chăm sóc sức khỏe; Quản lý sinh viên nội trú, ngoại trú trong thời gian học tập tại Trường.
5 - Phòng Quản Trị Cơ sở vật chất : Tham mưu cho Ban Giám Hiệu trong công tác quy hoạch, quản lý sử dụng cơ sở vật chất trong Trường; quản lý và giám sát việc sữa chữa thường xuyên các công trình nhà cửa - vật kiến trúc, hệ thống điện - nước - điện thoại; quản lý các nhà học dùng chung, cảnh quan môi trường; theo dõi, quản lý mua sắm, xử lý tài sản, công cụ và vật liệu phục vụ cho giảng dạy, học tập và NCKH trong trường. - Phòng Kế Hoạch - Tài chính: Tham mưu cho Hiệu trưởng phương hướng, biện pháp, qui chế quản lý tài chính, thực hiện các quyết định tài chính của Hiệu trưởng và tổ chức thực hiện công tác kế toán sao cho hiệu quả, đúng qui chế. Thực hiện các thủ tục giao dịch tài chính với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài Trường; kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các qui định quản lý tài chính và chế độ tài chính; - Phòng Thanh tra: Tham mưu và giúp Hiệu trưởng thực hiện quyền thanh tra nhà nước về giáo dục và đào tạo trong phạm vi Nhà trường nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Trường. Tổ chức việc tự kiểm tra, thanh tra thuộc phạm vi quản lý của Trường theo qui định của pháp luật về thanh tra.
Bảo đảm cho Nhà trường hoạt động theo pháp luật và thực hiện nguyên tắc pháp chế.