CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục phổ thông tư thục 1. Những công trình của các tác giả ngoài nước Giáo dục phổ thông tư thục trên thế giới đã phát triển từ rất sớm và kèm theo đó là nhiều công trình nghiên cứu về loại hình trường này của nhiều tác giả. Trong cuốn: Public policy and private education in Japan (1988), các tác giả Estelle James, Gail R.
Benjamin quan tâm tới hệ thống trường học công lập và tư thục tại Nhật Bản và cách mà các bên tương tác với nhau tạo nên nền giáo dục phổ biến, rộng rãi của Nhật Bản. Do các mục tiêu chính trị nhằm hạn chế quy mô của lĩnh vực công lập và thị trường lao động làm cho giáo dục trở nên thu hút về mặt kinh tế đối với các nhà đầu tư mà khu vực giáo dục tư nhân tại Nhật Bản rất rộng, đặc biệt là cấp Trung học trở lên. Cuốn sách là một nghiên cứu nghiêm túc về những lựa chọn chính sách giáo dục của Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đã thành công trong việc tạo dựng sự phù hợp giữa khu vực công lập và tư thục trong giáo dục [135].
Với công trình Chuẩn thị trường và chính sách xã hội (Quasi - markets and Social Policy, (1993), Macmillan, London, các tác giả Le Grand, J. cho rằng thị trường giáo dục là một thực tế đã được chấp nhận trong giáo dục. Đó là một thị trường đặc biệt, khác với thị trường hàng hóa hoặc thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ khác. Trong thị trường giáo dục, bên cạnh cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, quản lý chất lượng, bảo vệ quyền lợi người học nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục [142].
Các tác giả Marlaine Lockheed và Emmanuel Jimenez (1994) trong công trình nghiên cứu Public and private secondary schools in developing countries: What are the differences and Why do they persist? (1994) đã tìm hiểu thực trạng về sự cân bằng giữa nhà nước và tư nhân trong giáo dục và những tranh luận chính sách xung quanh vấn đề này. Nghiên cứu trình bày các kết quả so sánh hiệu quả của trường 10 công lập và trường tư thục tại 5 quốc gia đang phát triển, có nền giáo dục đa dạng đó là Colombia, Cộng hòa Dominican, Philippines, Tanzania và Thái Lan; tập trung phân tích khác biệt về đầu vào, quy trình và quản lý trường học theo hai cách: sử dụng các dữ liệu sẵn có và trực tiếp thu thập thông tin chi tiết từ một vài mẫu nhỏ là trường công lập và tư thục tại 5 quốc gia này. Nghiên cứu có sức ảnh hưởng quan trọng tới chính sách giáo dục công lập khi khẳng định các trường công lập có thể đạt được hiệu quả bằng cách áp dụng cách thức quản lý của trường tư thục [138]. Tooley, James (1999): Công nghiệp giáo dục toàn cầu, những bài học từ giáo dục tư thục ở các nước đang phát triển (The Global Education Industry, Lessons from Private Education in Developing Countries), Institute of Economic Affairs, London.
Cuốn sách đã chỉ ra trong quá trình xây dựng một nền giáo dục tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội; tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, mỗi quốc gia có những phương thức và con đường đi khác nhau [143]. Trong công trình nghiên cứu về các chính sách giáo dục tư và công tại các nước Mỹ La tinh: Private Education and Public Policy in Latin America (2005), các tác giả Laurence Wolff, Juan Carlos Navarro và Pablo González đã đánh giá các chính sách công trong khu vực ảnh hưởng tới hoạt động của các trường tư thục. Cuốn sách mô tả thực trạng những chính sách và các mối quan hệ giữa 2 khu vực công và tư trong giáo dục tại 6 nước: Argentina, Chile, Colombia, Guatemala, Peru và Venezula. Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của giáo dục tư thục và khái niệm về “tư nhân hóa” trong giáo dục đã là một khái niệm lỗi thời.
Hay nói đúng hơn, sự khác biệt giữa trường công và trường tư không quan trọng bằng những lợi ích cộng đồng đã được thừa nhận của mỗi bên. Với các chính sách đúng đắn, giáo dục công lập chất lượng cao có thể cùng tồn tại với sự phát triển của giáo dục tư thục. Các tác giả cũng chỉ ra rằng, trái với các giả định chung, giáo dục tư thục không chỉ phục vụ cho tầng lớp khá giả mà còn phục vụ cho cả tầng lớp nghèo và thiếu thốn trong xã hội [144]. Đặc biệt hai tác giả nước ngoài nghiên cứu về giáo dục ngoài công lập của Việt Nam đó là tác giả Paul Glewwe và Harry Anthony Patrinos với công trình nghiên cứu The Role of the Private Sector in Education in Vietnam: Evidence from 11 the Vietnam Living Standards Survey (1988).
Nghiên cứu đã phân tích thực trạng của Giáo dục ngoài công lập tại Việt Nam và sử dụng dữ liệu từ cuộc Khảo sát năm 1992-1993 về Mức sống ở Việt Nam để thu thập nguyên nhân các hộ gia đình lựa chọn trường học công lập hay tư thục cho con em họ và chi phí cũng như lợi ích của các trường tư thục. Nghiên cứu có phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và địa lý. Các hộ gia đình khá giả của Việt Nam thường ít có xu hướng lựa chọn các trường tư thục, nhưng lại có xu hướng lựa chọn các trường tư thục cho con theo học khi thu nhập của các hộ gia đình tăng có thể dẫn tới mức độ sẵn sàng chi tiền cho giáo dục cũng sẽ tăng. Tôn giáo và tộc người có ảnh hưởng không đáng kể tới việc lựa chọn trường công hay tư.
Ngoài ra, về chính sách tiền lương, các cá nhân làm việc cho trường tư sẽ nhận được mức lương cao hơn so với các cá nhân làm việc cho trường công [136]. Những công trình của các tác giả trong nước Việt Nam có những nét đặc thù riêng về thể chế, là nước đang phát triển – tiếp cận nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Từ chủ trương đổi mới, qua quá trình XHHGD và phát triển hệ thống trường tư thục cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường dịch vụ giáo dục; mô hình, hoạt động của trường phổ thông tư thục; chính sách và một số lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN có liên quan: Tác giả Nguyễn Văn Đản chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp Bộ Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng qui chế trường phổ thông ngoài công lập [55]. Đề tài đã chỉ ra những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng quy chế trường phổ thông tư thục như: xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và xã hội hóa giáo dục, vai trò của sự tham gia xã hội vào công tác giáo dục, thực trạng tổ chức và hoạt động của các trường phổ thông tư thục trước năm 2000 để làm căn cứ xây dựng quy chế trường phổ thông tư thục.
Đề tài Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế do PGS. Trần Quốc Toản làm chủ nhiệm [122]. Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước đã nghiên cứu tương đối toàn diện 12 những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa giáo dục và thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Một số nhà khoa học, học giả Việt Nam nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của một số nước như Trung Quốc, Liên bang Nga về nhận thức, quan điểm, phát triển và quản lý hệ thống trường tư thục.
Trên cơ sở đó, các tác giả khuyến nghị những giải pháp về phát triển và quản lý hệ thống trường tư thục của Việt Nam. Có thể kể đến một số công trình của các tác giả : - Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI do Vũ Đình Cự chủ biên [48]; - Từ tình hình phát triển các trường ngoài công lập Liên bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: thử tìm giải pháp có tính đột phá về lĩnh vực này của Nguyễn Như Ất [4]; - Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI của các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ [75]; - Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI – Bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa do Nguyễn Quang Kính biên dịch [89]. Liên quan đến giáo dục ngoài công lập, cần nhắc đến đề tài khoa học cấp thành phố năm 2006 của Trương Thị Thảo Anh : Thực trạng và giải pháp củng cố, phát triển các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội [1]. Nội dung đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ khi đổi mới đến 2004 và đề xuất các giải pháp củng cố, phát triển chúng.
Về thực trạng, đề tài đã nêu ra những kết quả đạt được của các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội như: Sự phát triển về số lượng các trường, số học sinh; sự phát triển về cơ sở vật chất, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; bên cạnh đó, đề tài chỉ ra những yếu kém như: năng lực quản lý của Hội đồng quản trị, hiệu trưởng, sự thiếu hụt của đội ngũ giảng viên cơ hữu; chất lượng giáo dục; bất cập trong quản lý nhà nước đối với các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một loạt các giải pháp để củng cố, phát triển chúng: Thành phố có chính sách cụ thể để tạo 13 điều kiện thuận lợi trong việc các trường thuê đất; đảm bảo sự bình đẳng giữa trường công lập và trường tư thục; nâng cao chất lượng bộ máy làm công tác quản lý trong các trường; đổi mới nội dung quản lý nhà nước đối với các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến đã có một số bài viết về đổi mới quản lý giáo dục theo hướng chỉ một nhân tố mới là thị trường giáo dục.