CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. VỐN HUY ĐỘNG VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Vốn huy động của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm vốn huy động của ngân hàng thương mại Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn huy động của NHTM chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu. “ Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà các ngân hàng huy động được từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh”1 Nguồn vốn huy động có các đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn huy động có quy mô rất lớn, thông thường là 70-80% tổng nguồn vốn, là công cụ chính để NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng khả năng sinh lời và uy tín đối với khách hàng.
Thứ hai, bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, và phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn trước hạn. Do đó ngân hàng luôn phải dự trữ một tỷ lệ thích hợp để đảm bảo khả năng thanh khoản. Thứ ba, vốn huy động phải dự trữ bắt buộc nên chi phí huy động thường cao hơn so với nguồn vốn khác. Theo quy định của NHNN, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 3% đối với tiền gửi VND không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng; 1% đối với tiền gửi VND từ 12 tháng trở lên.
Bên cạnh đó, các NHTM còn phải chịu chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí hoạt động, chi phí dự trữ tiền mặt. khiến chi phí huy động vốn tương đối cao. Thứ tư, vốn huy động thường nhạy cảm với các biến động của thị trường như lãi suất, tỷ giá,. Lãi suất huy động có ảnh hưởng lớn đến quy mô tiền gửi vào NHTM, đặc 1 PGS.
Tô Ngọc Hưng, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê 2009, trang 49 3 biệt là tiền gửi tiết kiệm. Vì người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của các hình thức đầu tư khác như cổ phiếu, trái phiếu,. Từ đó dân chúng sẽ đưa ra quyết định có nên gửi tiền vào ngân hàng hay không? Gửi bao nhiêu và dưới hình thức nào?. Còn về tỷ giá ngoại hối, khi đồng nội tệ lên giá, nhà nước phải điều chỉnh giảm mức lãi suất, điều này sẽ giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ, nếu không điều chỉnh mức lãi suất thì những nhà sản xuất kinh doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng lấy nội tệ gửi vào ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi suất cao.
Điều này sẽ tác động xấu đến sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân sách phải tiếp tục thanh toán lãi suất về huy động tiền gửi. Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Thứ nhất, vốn là cơ sở để ngân hàng thực hiện mọi hoạt động kinh doanh. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động thì phải có vốn, vốn quyết định khả năng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt nên vốn cũng là cơ sở để ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Thứ hai, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và tổ chức xã hội. Do quá trình huy động vốn của ngân hàng là quá trình tập trung các nguồn vốn trong xã hội, hút vốn từ người dư thừa vốn, sau đó cho vay đáp ứng như cầu của người cần vốn để tiêu dùng, sản xuất kinh doanh, đầu tư…Vì vậy, huy động vốn kịp thời sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí nguồn lực, đẩy nhanh quá trình luân chuyển dòng tiền. Thứ ba, vốn quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động khác của ngân hàng.
Do vốn huy động quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng, huy động vốn là bước khởi đầu quan trọng nhất để thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình tín dụng. Thứ tư, vốn huy động quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường. Ngân hàng muốn có tính thanh khoản cao thì phải có nguồn vốn 4 dồi dào để có thể vừa chủ động tiến hành các hoạt động kinh doanh vừa giữ được chữ tín, nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường. Thứ năm, hoạt động huy động vốn góp phần thực hiện chính sách tài chính và chính sách tiền tệ quốc gia.
Hoạt động huy động vốn góp phần kiềm chế và kiểm soát lạm phát thông qua điều chỉnh lượng tiền tham gia vào quá trình lưu thôn, ổn định giá trị đồng tiền. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Nhận tiền gửi Trong các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi là phương thức quan trọng nhất và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn, là đặc trưng của riêng NHTM. Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức khác nhau( phân chia theo loại kỳ hạn và tính chất của tiện ích), có trả lãi hoặc có thể bao gồm, cung ứng dịch vụ tiện ích theo hình thức huy động, đồng thời NHTM được quyền sử dụng nguồn vốn đó để cho vay lại hoặc cung ứng dịch vụ tiện ích nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Như vậy, việc nhận tiền gửi không thuần túy là giao dịch gửi- giữ tài sản bởi trong giao dịch này ngân hàng không có trách nhiệm hoàn trả đúng đồng tiền đã nhận, không thu phí giữ hộ tài sản mà ngân hàng phải trả lãi, đổi lại ngân hàng được quyền khai thác nguồn tiền đó. a, Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn( TG KKH) là tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân nhằm mục đích thanh toán qua ngân hàng. Với số tiền này khách hàng có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào. Có hai loại TG KKH là tiền gửi giao dịch và tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch.
Tiền gửi giao dịch, còn gọi là tiền gửi thanh toán, được dùng để đáp ứng nhu cầu giao dịch, tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động, dịch vụ phát sinh trong tiêu dùng,kinh doanh một cách thường xuyên, nhanh chóng và rất an toàn. Loại tiền này có tính không ổn định do khách hàng có thể rút tiền mà không báo trước, nên nó thường không được trả lãi, hoặc lãi suất rất thấp. Tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch là khoản tiền gửi vào với mục đích an toàn, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần 5 khách hàng có thể đến ngân hàng rút ra bất cứ lúc nào trong các trường hợp cần chi tiêu gấp.
Nhìn chung, TG KKH là nguồn không ổn định nhưng vẫn rất cần thiết cho ngân hàng bởi chi phí thấp và số lượng khá lớn. TG KKH được huy động chủ yếu từ dân cư và các tổ chức kinh tế, ngoài ra ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi của các ngân hàng khác với mục đích thanh toán hộ. b, Tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại huy động tiền gửi có sự thỏa thuận về thời hạn rút tiền và thanh toán lãi. Theo nguyên tắc, người gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán nhưng trong thực tế, ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn.
Khách hàng có thể vay tiền của ngân hàng, sau đó đến hạn rút tiền thì dùng số tiền đó để trả nợ hoặc ngân hàng thỏa thuận với khách hàng, cho phép rút tiền trước với lãi suất thấp hơn, thường là lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm đó. Tiền gửi có kỳ hạn mang tính ổn định cao nên ngân hàng thường tập trung thu hút khách hàng bằng cách đa dạng hóa các loại hình, đưa ra nhiều kỳ hạn thanh toán với mức lãi suất ưu đãi khác nhau, kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao hoặc kèm theo các dịch vụ hậu mãi, rút thăm trúng thưởng,… c, Tiền gửi tiết kiệm( TGTK) Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định 1160/2004/ QĐ- NHNN, “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.” Đặc trưng của TGTK là tính ổn định cao đồng thời chi phí huy động cũng cao. Khách hàng chủ yếu gửi TGTK là các cá nhân với mục đích tích lũy phần thu nhập chưa sử dụng đến một cách an toàn và hưởng lãi. TGTK cũng bao gồm TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn.
Các sản phẩm của TGTK rất phong phú, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích khách hàng gửi tiết kiệm để thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt trong nhà. TGTK không chỉ nhằm mục đích hưởng lãi mà còn có thể dùng làm tài sản thế chấp khi vay vốn tại ngân hàng. 6 Ngoài ra còn có hình thức gửi tiền tiết kiệm có mục đích, thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Những người tham gia loại hình tiết kiệm này ngoài việc hưởng lãi còn được ngân hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm vốn cho xây dựng nhà ở.
Phát hành GTCG và đi vay a. Phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá bản chất là giấy nhận nợ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của ngân hàng đối với khách hàng, bao gồm ba hình thức chính là chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng và trái phiếu ngân hàng. Chứng chỉ tiền gửi giống như một khoản tiền gửi có kỳ hạn, người sở hữu sẽ được hưởng lãi suất định kỳ trong thời hạn 360 ngày và được hoàn gốc khi đến hạn, được phép mua bán và chuyển nhượng trên thị trường.