CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn 1. Khái niệm vốn huy động: Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ của một ngân hàng thương mại nào. Bản chất của vốn huy động là các tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau.
Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó cũng là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Thông thường vốn huy động chiếm tỷ trọng trên 90% tổng nguồn vốn.
Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả thì tổng nguồn vốn của ngân hàng sẽ tăng, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn. Đặc điểm của vốn huy động Vốn huy động trong ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại hoạt động được chủ yếu được là nhờ vào nguồn vốn này. Vốn huy động là nguồn vốn không ổn định vì thế các ngân hàng thương mại cần phải duy trì một khoản “dự trữ thanh toán” để sẵn sàng đáp ứng một nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Có chi phí sử dụng tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh đầu vào của ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Vốn huy động, chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các ngân hàng thương mại không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư. Các hình thức huy động vốn của NHTM 1.
Huy động tiền gửi: Huy động tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi bao gồm: Tiền gửi thanh toán: là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hóa dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: là khoản tiền được ký gửi với mục đích bảo quản an toàn tài sản.
Khi cần khách hàng có thể đến rút ra để chi tiêu. Cũng giống như trường hợp trên, ngân hàng phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tài khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. ở Việt Nam tiền gửi loại này được thể hiện dưới các hình thức như: tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt còn thấp, để khuyến khích thanh toán qua ngân hàng các ngân hàng thương mại Việt Nam trả lãi cho loại tiền gửi này như tiền gửi không kỳ hạn khác.
ở các nước phát triển loại tiền gửi này chiếm vị trí quan trọng trong kết cấu nguồn vốn và có chi phí đầu vào rất thấp. Có thể nói tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn để các ngân hàng huy động vốn với chi phí thấp, trong khi đó quy mô vốn huy động được khá lớn. Tuy nhiên việc sử dụng nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định do khách hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ khi nào, đặt ngân hàng trước rủi ro thanh toán. Do đó, muốn sử dụng hiệu quả nguồn này, ngân hàng phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm kinh doanh, thu nhập, chi tiêu .của khách hàng để có kế hoạch khai thác hiệu quả.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi định kỳ là loại tiền gửi mà nguồn tiền chỉ có thể rút ra khi đáo hạn, tuy nhiên trong trường hợp bình thường, các ngân hàng vẫn cho khách hàng rút vốn trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi theo lãi suất không kỳ hạn. Đặc điểm: 123doc 6 - Tiền gửi định kỳ có đặc điểm là sự ổn định tương đối, do đó các ngân hàng thương mại thường sử dụng để cho vay trung và dài hạn. - Tiền gửi định kỳ có chi phí sử dụng vốn khá cao. Người gửi tiền có kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lãi, do đó lãi suất hấp dẫn, lãi suất cao là đòn bẫy, là công cụ để thu hút nguồn vốn này.
Phát hành các công cụ nợ: Các NHTM có thể phát hành các công cụ nợ (nếu đủ điều kiện theo quy định) như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong một thời gian nhất định. Chứng chỉ tiền gửi là những giấy xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng hay một định chế tài chính khác. Người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ tiền vốn khi hết hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ.
Các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi chủ yếu vào mục đích thanh toán các chứng chỉ này thường không thuộc loại trái phiếu chiết khấu, lãi suất của chúng thường cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc và mức độ rủi rỏ của nó cũng thấp. Kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành theo từng đợt để huy động vốn một cách linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng. Việc phát hành kỳ phiếu tùy thuộc theo thời gian và tình hình cụ thể của nguồn vốn ngân hàng. Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến ngân hàng sẽ ngừng việc huy động kỳ phiếu.
Đây là hình thức huy động vốn nhanh vì còn có lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn, lãi có thể chuyển nhượng dễ dàng nên thu hút khối lượng vốn khá lớn. Trái phiếu ngân hàng là một công cụ nợ của ngân hàng, với các cam kết thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và ngày thanh toán vào những thời gian xác định. Lãi suất trái phiếu thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. trái phiếu dùng để huy động vốn trung dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn.
Trong khi kỳ phiếu thì được phát hành ở từng chi nhánh với khung lãi 123doc 7 suất, thời gian phát hành riêng biệt thì trái phiếu phát hành với quy mô lớn, đồng loạt trong hệ thống mỗi ngân hàng. Ở nước hiện nay các hình thức huy động qua phát hành công cụ nợ còn thấp so với các nguồn huy động khác. Tùy theo từng thời kỳ, khi nào cần thì ngân hàng mới huy động. Sử dụng nguồn này ngân hàng chủ động được thời gian sử dụng, số lượng và giá cả của vốn.
Tuy ngân hàng phải trả mức cao hơn mức lãi suất huy động vốn nhưng có tác dụng kiềm chế lạm phát và góp phần cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Các hình thức huy động vốn khác: Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM còn có các nguồn các như tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo thanh toán, tiền tạm gửi, tiền đang chuyển và các khoản khác. NHTM cũng có thể sử dụng các hình thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ nền kinh tế, từ nước ngoài thông qua các hoạt động ký thác về các dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ. hoặc đứng ra làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán, làm đại lý bảo hiểm, làm đại lý ủy thác đầu tư.2 Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khóc liệt.
Bất kỳ biến động nào dù nhỏ hay lớn điều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Vì vậy, hiệu quả trong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng. Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so sánh kết quả và chi phí thì phải cần so sánh dạng thương số, hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả.
Mỗi cách so sánh đều cung cấp thông tin có ý nghĩa khác nhau. Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó. 123doc 8 Như vậy, hiệu quả huy động vốn được thể hiệu ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.
Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý. Hiệu quả huy động vốn được thể hiệu trên các mặt sau: Hiệu quả đối với xã hội: hiệu quả huy động vốn của NHTM đối với xã hội được nhìn nhận trên gốc độ các lợi ích mà lượng vốn này được sử dụng để bổ sung lượng vốn cho nền kinh tế và nâng cao mức sống của người dân thay vì sử dụng đồng vốn đó vào các chi tiêu khác. Hiệu quả này có được là nhờ việc tiết kiệm chi tiêu, tăng cường các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nên công ăn việc làm cho người lạo động, nâng cao mức sống người dân thông qua sinh lợi của khoản tiết kiệm tại ngân hàng và các lợi ích gián tiếp của quá trình sử dụng vốn tiết kiệm để kinh doanh mang lại. Hiệu quả huy động vốn từ dân cư của NHTM đối với xã hội ngày càng cao trong điều kiện đất nước đó đang cần nhiều vốn để phát triển nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển.