Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở chính thức khai trương tại Việt Nam vào ngày 12 tháng 7 năm 2000, đánh dấu bước ngoặt chuyển dịch căn bản từ việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trực tiếp sang công cụ gián tiếp theo chuẩn mực quốc tế. Trong giai đoạn 2001 - 2004, tổng khối lượng giao dịch qua thị trường mở đã có sự tăng trưởng bứt phá từ mức 3.933,81 tỷ đồng lên đến 30.028,60 tỷ đồng thông qua 105 phiên đấu thầu. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành trong 4 năm đầu tiên cho thấy hiệu quả của kênh điều tiết này vẫn chưa phát huy tối đa do quy mô thị trường còn hạn chế, số lượng thành viên tham gia bình quân mỗi phiên chỉ đạt từ 1 đến 4 đơn vị (tương ứng khoảng 15% tổng số thành viên đăng ký), và hoạt động giao dịch chủ yếu tập trung ở khối ngân hàng thương mại quốc doanh với 76% thị phần huy động vốn toàn hệ thống. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính - Lưu thông tiền tệ và tín dụng của tác giả Nguyễn Thị Thể Ngà tập trung giải quyết bài toán trọng tâm: phân tích thực trạng tổ chức và kết quả vận hành thị trường mở tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2004, nhận diện các điểm nghẽn về thể chế, công nghệ và hàng hóa giao dịch, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường mở định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để Ngân hàng Nhà nước điều tiết vốn khả dụng linh hoạt, hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất trúng thầu từ mức 4,00% - 5,58%/năm năm 2001 xuống 3,25% - 4,00%/năm năm 2004, đồng thời khơi thông nguồn vốn ngắn hạn phục vụ công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được phát triển dựa trên lý thuyết ngân hàng trung ương hiện đại và lý thuyết truyền dẫn chính sách tiền tệ gián tiếp thông qua thị trường tài chính. Cốt lõi của khung phân tích là mô hình quản lý thanh khoản của các định chế tài chính trung gian, phân định rõ giữa dự trữ sơ cấp (tiền mặt tại quỹ và tiền gửi thanh toán bắt buộc tại ngân hàng trung ương) và dự trữ thứ cấp (các giấy tờ có giá ngắn hạn có tính lỏng cao). Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt luận văn gồm: nghiệp vụ thị trường mở theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997, cơ chế quản lý vốn khả dụng theo Quyết định số 37/2000/QĐ-NHNN1, và phương thức xác định giá trị chứng khoán qua đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Bên cạnh đó, tác giả tích hợp các bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu: mô hình vận hành của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) với công cụ thỏa thuận mua lại repo từ 1 đến 15 ngày nhằm triệt tiêu dao động dự trữ tạm thời; mô hình của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) với việc áp dụng tỷ lệ khấu trừ rủi ro định giá haircut đối với trái phiếu có coupon; và mô hình của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) với việc lựa chọn 10 ngân hàng chỉ định làm đại lý giao dịch sơ cấp và duy trì quy mô phát hành chứng khoán chính phủ chiếm khoảng 25% GDP năm 2002.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống báo cáo nghiệp vụ chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, các tạp chí chuyên ngành tiền tệ - ngân hàng và dữ liệu thống kê tài chính thường niên của 83 ngân hàng thương mại cùng 906 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong giai đoạn 2000 - 2004. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ 312 phiên giao dịch thị trường mở được tổ chức từ năm 2001 đến tháng 11 năm 2004, kết hợp phương pháp chọn mẫu chủ đích đối với nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước trọng điểm vốn nắm giữ hơn 70% dư nợ tín dụng toàn ngành. Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp tổng hợp quy nạp kinh tế. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này là hoàn toàn cần thiết vì giúp lượng hóa chính xác mức độ biến động của doanh số giao dịch, xu hướng hội tụ của lãi suất trúng thầu, cũng như đánh giá khách quan mối quan hệ tương tác giữa công tác dự báo vốn khả dụng với các quyết định bơm hút tiền tệ của cơ quan quản lý trong giai đoạn nền kinh tế có biểu hiện thiểu phát năm 2003.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và doanh số giao dịch trên thị trường mở đạt tốc độ tăng trưởng vượt bậc qua từng năm. Từ mức 3.933,81 tỷ đồng với 62 phiên giao dịch trong năm 2001, quy mô thị trường đã tăng lên 8.945,53 tỷ đồng qua 66 phiên năm 2002, đạt 21.183,15 tỷ đồng qua 79 phiên năm 2003 và xác lập kỷ lục 30.028,60 tỷ đồng qua 105 phiên trong 11 tháng năm 2004. Tốc độ tăng trưởng doanh số giao dịch sau 4 năm đạt hơn 663%, phản ánh sự thích ứng nhanh chóng của công cụ gián tiếp vào đời sống kinh tế.

Thứ hai, mức độ tập trung thị trường quá cao và thiếu sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế. Trong tổng số 74 lượt thành viên trúng thầu tính đến tháng 9 năm 2004, có tới 59 lượt thuộc về khối ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm tỷ trọng 79,73%). Điều này hoàn toàn tương thích với thực tế khối ngân hàng quốc doanh nắm giữ 76% thị phần huy động vốn và 73% thị phần cho vay, trong khi các ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài gần như không tham gia do hạn chế về nguồn vốn khả dụng và thiếu hụt giấy tờ có giá.

Thứ ba, cơ cấu nghiệp vụ có sự thiên lệch lớn về phía hỗ trợ thanh khoản một chiều. Trong 74 phiên giao dịch đầu năm 2004, Ngân hàng Nhà nước mua kỳ hạn lên tới 22.059,20 tỷ đồng trong khi bán kỳ hạn chỉ đạt 950 tỷ đồng. Hơn 80% khối lượng giấy tờ có giá lưu thông trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào tín phiếu kho bạc phát hành qua kênh đấu thầu từ năm 1995, tạo nên sự đơn điệu về chủng loại công cụ nợ.

Thứ tư, biên độ dao động lãi suất trúng thầu qua đấu thầu ngày càng thu hẹp và ổn định. Lãi suất trúng thầu từ khoảng 4,00% - 5,58%/năm trong năm 2001 đã giảm và ổn định dần ở mức 3,25% - 4,85%/năm năm 2003 và duy trì trong biên độ 3,25% - 4,00%/năm vào năm 2004, phản ánh đúng tín hiệu điều hành khi Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận từ giữa năm 2002.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa khiến thị trường mở chưa thực sự sôi động xuất phát từ sự ràng buộc của Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước khi chỉ cho phép giao dịch các giấy tờ có giá ngắn hạn dưới 1 năm. Quy định này đã vô hình trung loại bỏ các công cụ nợ trung và dài hạn từ 1 đến 5 năm, làm suy giảm đáng kể nguồn hàng hóa giao dịch. Bên cạnh đó, mức trúng thầu dự trữ an toàn của 4 ngân hàng thương mại trong năm 2003 chỉ đạt vỏn vẹn 106 tỷ đồng, là con số quá khiêm tốn so với chuẩn mức dự trữ an toàn tối thiểu 5% trên tổng tiền gửi nhằm ngăn ngừa rủi ro rút tiền hàng loạt.

Về phương thức biểu diễn trực quan, các dữ liệu chuỗi thời gian nói trên có thể được trình bày thông qua biểu đồ kết hợp cột và đường: trục cột thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ của tổng khối lượng giao dịch từ 3.933,81 tỷ đồng lên 30.028,60 tỷ đồng, còn trục đường thể hiện xu hướng thu hẹp của dải lãi suất trúng thầu từ vùng 5,58% xuống 3,25%. Song song đó, một bảng ma trận phân loại thị phần sẽ làm nổi bật sự chênh lệch áp đảo khi ngân hàng quốc doanh chiếm gần 80% lượt trúng thầu so với các khối ngân hàng còn lại. So sánh với kinh nghiệm của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, nơi thị trường mở cung ứng tới hơn 70% tổng quy mô tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại, hoạt động thị trường mở tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2004 mới chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ vốn khả dụng tình thế chứ chưa trở thành kênh dẫn vốn chủ đạo cho toàn bộ nền kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng khung khổ pháp lý và đa dạng hóa hàng hóa giao dịch do Quốc hội và Ngân hàng Nhà nước phối hợp thực hiện trong giai đoạn 2005 - 2010. Cần khẩn trương sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng cho phép các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình và trái phiếu ngân hàng thương mại có kỳ hạn từ 1 đến 5 năm được giao dịch trên thị trường mở với phương thức chuyển nhượng ngắn hạn dưới 1 năm, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giao dịch trái phiếu trung dài hạn lên trên 30% tổng doanh số thị trường mở.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng công nghệ và chuẩn hóa quy trình dự báo vốn khả dụng do Ban Điều hành Thị trường mở và Vụ Chính sách Tiền tệ chủ trì triển khai trong lộ trình 2005 - 2008. Tiến hành trang bị hệ thống mạng vi tính kết nối trực tuyến thời gian thực giữa Ngân hàng Nhà nước với 83 ngân hàng thương mại, phấn đấu kiểm soát sai số dự báo vốn khả dụng toàn hệ thống dưới mức 5% tại mỗi phiên giao dịch nhằm đưa ra quyết định bơm hút tiền tệ chính xác tuyệt đối.

Thứ ba, thúc đẩy sự tham gia chủ động của khối ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước điều phối từ năm 2006 đến năm 2010. Thực hiện cơ cấu lại năng lực tài chính, mở rộng hạn mức giao dịch và thiết lập cơ chế đại lý sơ cấp tương tự mô hình Singapore, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tổ chức tín dụng tham gia thường xuyên từ mức 15% lên tối thiểu 45% tổng số hội viên.

Thứ tư, tăng cường liên kết giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa do Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước thực hiện định kỳ hàng quý đến năm 2020. Tối ưu hóa khối lượng phát hành tín phiếu Kho bạc qua đấu thầu sơ cấp với mức lãi suất thị trường hấp dẫn khoảng 2,0% đến 6,0%/năm, giúp ngân sách nhà nước huy động hàng chục ngàn tỷ đồng đầu tư hạ tầng và đảm bảo cung cấp đủ lượng chuẩn tiền để các ngân hàng thương mại duy trì đệm an toàn thanh khoản 5% trên tổng tiền gửi huy động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sâu sắc về mô hình tổ chức ban điều hành thị trường mở, quy trình dự báo vốn khả dụng và cơ chế phối hợp giữa các công cụ tái cấp vốn, lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở trong quản lý vĩ mô.

Thứ hai, cán bộ quản lý ngân quỹ và nguồn vốn (Treasury) tại 83 ngân hàng thương mại: Nghiên cứu đưa ra cẩm nang vận hành chi tiết về kỹ thuật tham gia đấu thầu repo, tối ưu hóa cơ cấu dự trữ thứ cấp và chuyển đổi linh hoạt các giấy tờ có giá ngắn hạn thành tiền mặt để quản trị rủi ro thanh khoản với chi phí thấp nhất.

Thứ ba, chuyên viên quản lý nợ công và phát hành công cụ nợ tại Bộ Tài chính: Công trình chỉ rõ phương thức liên kết giữa thị trường sơ cấp tín phiếu kho bạc với thị trường mở, hỗ trợ giảm chi phí huy động vốn cho ngân sách nhà nước từ mức 8,2%/năm của kênh bán lẻ xuống vùng 5,8% - 6,1%/năm qua đấu thầu.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học khối ngành Tài chính - Ngân hàng: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật toàn diện về quá trình chuyển đổi thể chế tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2004, cung cấp số liệu thống kê chuẩn xác và phương pháp luận phân tích thị trường tiền tệ hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam được khai trương vào thời gian nào và quy mô giao dịch ban đầu đạt bao nhiêu? Nghiệp vụ thị trường mở chính thức đi vào vận hành từ ngày 12 tháng 7 năm 2000. Trong năm 2001, thị trường đã tổ chức được 62 phiên giao dịch với tổng doanh số đạt 3.933,81 tỷ đồng và mức lãi suất trúng thầu dao động trong khoảng 4,00% đến 5,58%/năm.

Vì sao khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm ưu thế tuyệt đối trong các phiên giao dịch thị trường mở giai đoạn 2001 - 2004? Khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm tới 79,73% số lượt trúng thầu do nắm giữ 76% thị phần huy động vốn và 73% thị phần tín dụng toàn ngành. Quy mô vốn vượt trội cùng việc sở hữu hơn 80% tín phiếu kho bạc phát hành qua đấu thầu sơ cấp giúp khối này làm chủ các phiên tham gia thị trường mở.

Hai hình thức đấu thầu chính được áp dụng trên thị trường mở Việt Nam là gì? Hai hình thức đấu thầu bao gồm: đấu thầu khối lượng (thành viên đặt thầu khối lượng giấy tờ có giá cần mua bán theo lãi suất do Ngân hàng Nhà nước ấn định) và đấu thầu lãi suất (thành viên tự tính toán và đặt các mức lãi suất kỳ vọng tương ứng với từng khối lượng giao dịch cụ thể).

Vốn khả dụng có vai trò quyết định như thế nào đối với các phiên can thiệp thị trường mở? Vốn khả dụng là chỉ số phản ánh tổng tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước. Khi vốn khả dụng dự báo lớn hơn mức cần duy trì (thừa vốn), cơ quan quản lý sẽ bán giấy tờ có giá để hút tiền; ngược lại khi hệ thống thiếu vốn, cơ quan quản lý sẽ mua kỳ hạn để bơm thanh khoản.

Kinh nghiệm điều hành thị trường mở của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ mang lại bài học then chốt nào? Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sử dụng các hợp đồng mua lại repo ngắn hạn với kỳ hạn từ 1 đến 15 ngày (phổ biến nhất là 7 ngày) như công cụ chủ đạo hàng ngày. Nghiệp vụ này giúp điều chỉnh dòng chuyển động dự trữ tức thời, giảm thiểu tối đa chi phí giao dịch và duy trì sự ổn định vững chắc cho hệ thống ngân hàng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về nghiệp vụ thị trường mở và vai trò điều tiết vốn khả dụng của ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường.
  • Đánh giá toàn diện 4 năm đầu vận hành nghiệp vụ thị trường mở (2000 - 2004) tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng doanh số ấn tượng hơn 663%, đạt 30.028,60 tỷ đồng qua 105 phiên năm 2004.
  • Nhận diện chính xác các rào cản nội tại về sự thống trị của khối ngân hàng quốc doanh chiếm gần 80% lượt trúng thầu và sự thiếu hụt hàng hóa giấy tờ có giá chuẩn hóa.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước, hiện đại hóa công nghệ dự báo vốn khả dụng và phối hợp chính sách tài khóa đến năm 2020.
  • Khẳng định thị trường mở là công cụ gián tiếp then chốt giúp kiểm soát cung ứng tiền tệ và duy trì sự ổn định mặt bằng lãi suất thỏa thuận trong khoảng 3,25% - 4,00%/năm.

Đóng góp cốt lõi của công trình là luận giải khoa học việc mở rộng danh mục giấy tờ có giá dài hạn và xây dựng quy chế quản lý an toàn dự trữ 5% trên tổng tiền gửi cho hệ thống ngân hàng thương mại. Trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống tài chính đến năm 2020, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị thanh khoản. Các nhà nghiên cứu và học viên cao học có thể tiếp tục mở rộng đề tài theo hướng ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích tác động lan tỏa của lãi suất thị trường mở đến thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.