Phần mở đầu Chương | : MOT SO VAN DE VE NGAN HANG THUONG MAL VA HIEU QUA HOAT BONG CUA NGAN HANG THUONG MAIL. Chuong 2: THUC TRANG HIEU QUA HOAT DONG CUA NGAN NHANG NÓNG NGHIEP VA PHAT TRIEN NONG THON CHI NHANH TINH DONG NAL. Chương 3:: GIẢI PHÁP NẴNG CAO HIỆU QUA HOAT DONG CUA NGAN HANG NONG NGHIEPVA PHAT TRIEN NONG THON CHI NHANH TINH DONG NAIL. Kết luận Phu luc Tài liệu tham kháo Nội dụng cụ thể từng chương của luận văn như sau: 3 CHUONG 1: MOT SO VAN DE VE NGAN HANG THUONG MAI VA HIEU QUA HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
MỘT SỐ VAN DE VE NGAN HANG THUONG MAI 1. Khải niệm ngân hàng thương mại. Ngân hàng đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay vẫn có nhiều cách định nghĩa về ngân hàng, Sở đi có sự khác nhau như vậy do các ngân hàng luôn luôn phát triển thêm các dịch vụ của mình, mặt khác mỗi cách định nghïa đứng trên những góc độ khác nhau. Có một số cách định nghĩa điển hình về ngân hàng như sau: -Giáo sư Peter S.
Rose-Đứng ở gốc độ xem xét ngân hàng trên phương điện những loại hình dịch vụ mà chúng cùng cấp, cho rằng: “Ngân hàng là loại bình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa đạng nhất -đặt biết là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh đoanh nào trong nên kinh tÊ”114] -Theo WB định nghĩa: “Ngân hàng là tổ tài chánh nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới đạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiên gửi không kỳ, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm). Dưới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có: các ngần hàng thương mại, chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiên gửi, cho vay ngắn hạn và trung đải hạn, các ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hảnh, các ngân hàng nhà ở cùng cấp tài chánh cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một số nước còn có các ngân hàng tổng hợp hoạt động ngân hàng thương mại với hoạt động ngân hàng đầu từ và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm * [26] x „ -Theo luật pháp nước Mỹ; “ bắt kỷ một tô chức nảo cung cấp tài khoản tiên ^ gửi cho phép khách hàng rút tiên theo yêu cầu (như băng cách việt séc hay băng việc rút tiên điện tử) và cho vay đôi với tô chức kimh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng”' [27] 4 -Ở Pháp các nhà kính tế cho rằng: ngân hàng là doanh nghiệp mà nghiệp vụ thường xuyên lã nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khẩu, tín đụng và tài chính, -Việt Nam: Theo Luật các TCTD sủa đối, điều 20 (khoản 2) có nêu : “Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác kinh doanh khác có liên quan”, cũng tại điều 20 (Khoản 7) đã định nghĩa “ Hoạt động ngần hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dụng thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiễn này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”, [10] Từ các địmh nghĩa trên cho ta một cách nhìn khái quát về NHTM là một định chế trung gian tải chánh, cụng cấp đa dạng nhất các dịch vụ tải chính với các nghiệp vụ cơ bản; nhận và giữ tiền gứi của khách hàng, thực hiện các dịch vụ thanh toán, cho vay đối với khách hang.Chức năng của ngân hàng thương mại 1. Chức năng thủ quỹ xã hột Trong thời ky phôi thai công việc chủ yếu của các NHTM là nhận ký gửi tiên vàng và các tải sản có giá khác của khách hàng.
Các tiệm vàng cấp cho khách hảng một biển nhận về số lượng và kim loại được giữ trong kho của mình, Mục đích gửi tat san của khách hàng lạ đảm bảo an toàn, còn các tiệm vàng thu được phi do việc giữ hộ tài sân. Khi cần, khách hàng có thể rút ra dé chi tiêu. Ngày nay, nghiệp vụ giữ hộ tiền này đã biển thành nghiệp vụ nhận tiền gửi thanh toán của khách hàng và nghiệp vụ giữ hộ các tải sản tài chính khác như: trải phiếu, cỗ phiểu, các giây tờ có øiá khác, các tài sản quý như vàng, jae" đã quý,. như ví là những địch vụ má có thể giúp ngân hàng tạo ra những khoản thu rất quan trọng.
va it rai ro. Việc giữ hộ tiền cho xã hội ngay nay con duoc chuyén qua việc nhận các khoản ký thác có kỳ hạn đài hoặc ngắn. Người có các khoản thặng dư tài chính có thể gửi vào các ngân hàng với cam kết là đến một kỳ hạn nhất định họ mới rút ra. Ngân hàng có thể sử dụng số tiên đó đề cho vay sinh lợi.
Vì vậy, đề khuyên khích § việc gửi tiên có kỳ hạn vào ngân hàng, các ngân hàng đã trả cho người gửi tiền mội khoản lãi tuỳ theo số tiền gũi có kỳ hạn dài hay ngắn. Nếu ngân hàng thực hiện đúng cam kết vả luôn luôn dam bao su chi tra kịp thời, đầy đủ cho khách hàng thì sẽ được xã hội tin tưởng và ký thác phần lớn thu nhập bằng tiễn vào ngân hàng dưới các hình thức tiễn gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi có kỳ hạn và qua đó sử dụng các tiện ích của ngân hàng trong dịch vụ thanh toan. Chức năng thủ quỹ của ngân hàng thương mại còn phát triển ra bằng việc ngân hàng sẵn lòng thu hộ các khoản tài chính của khách hàng và đưa vào các tài khoản cho khách hàng. Điều này giúp khách hảng tiết kiệm được nhiều thời gian để đi thu các khoản nợ của mình.
Với chúc năng này là bước khởi đâu tạo nguồn vẫn để ngân hàng thực hiện tốt chức nẵng tạo tiền, tín dụng và thanh toán, 1. Vào đầu thể kỷ 20 hệ thống ngân hàng hai cắp được hình thành, các ngân hảng không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thông, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan Nhà nước quần lý về tiên (ệ, tín dụng lả ngân hàng của các ngân hàng, còn các ngân hàng thương mại chuyên kinh doanh tiên tệ. Nhờ hoạt động trong hệ thông và nhờ có năng thủ quỹ mà các ngân hảng thương mại đã tạo ra bút tệ. Có thể khái quát quá trình tạo ra bút tệ của ngân hảng thương mại như sau: Khách hảng X gửi 1.000 đồng vào tài khoản tại NHTM A.
Giá sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, NHTM A dự trữ là 100.000 đồng và cho khách hàng vay 900.000 đồng để thanh toán cho khách hàng có tài khoán tại NHTM B, Ngân hàng B lại dự trữ 10% là 90.000đ và cho khách hàng vay 810.000đ, Khách hàng nảy lại thanh toán cho khách hàng khác và khách hàng khác này lại gứi tiền vào NH € 810. Chuỗi giao dịch tương tự cứ thể tiếp tục cho đến cho đến NHTM D, E. cuối cùng lả số dư tiền gửi vào từng NHTM sẽ giảm dần và bị triệt tiêu vì phải dự trữ bãt buộc do Ngân hàng trung ương quy địh. Như vậy, từ NHM AÁ cho đến 6G NHTM cudi cting, chudi hoat déng tuong ty da tao ra sO tién gui va cho vay gia tăng theo bảng mô tả tóm tắt sau : Bang Il.Ì : Quá trình tạo tiên của NH Ngân hàng Số gia tăng ký Dụ trữ bat Số gia tăng thác buộc (ví dụ 10%) cho vay A 1.000 toàn hệ thẳng Như vậy, từ 1.000 đồng tiền gửi ban đầu sau khi qua hệ thống ngân hàng với nhiều vòng ký thác liên tiếp nhau, cuối cùng đã tạo được một khối lượng tiền tệ gấp 10 lần là 10.3, Chitc nang trang gian thanh toan.
Khi ngân hàng lâm chức năng thủ quỹ xã hội, Ngân hàng đã tạo được sự tim tưởng nơi khách hàng nên việc thanh toán lẫn nhau giữa các khách hàng qua ngân hàng được thực hiện cảng nhiều, Ngân hàng theo lệnh của chủ tài khoản trích tài khoản thanh toán cho người được hưởng hoặc ngân hàng nhận các nguồn tiên khác chuyển vào tài khoản cho khách hàng. Chức năng thanh toán của ngân bàng đã làm cho ngân hàng khác hắn các định chế tài chính khác, vì chỉ có làm chức năng thanh toán và sử dụng số dư tiền gửi thanh toán của khách hàng để tạo ra tín đụng mả ngân hàng là định chế tải chính duy nhất có khả năng tạo ra thêm phương tiện lưu thông trực tiếp cho nên kinh tế, Chức năng thanh toán của ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong nên kinh tế, nó — xiúp cho lưu thông tiên tệ thông suốt, nhanh chóng, an toản, tiết kiệm tiên mặt vả 7 tiết kiệm chi phi. Chức năng này cảng được ngân hàng phát triển đa dang cả về hình thức, nội dung cũng như chất lượng thanh toán qua kênh ngân hàng. Với sự phát triển của công nghệ, ngày nay các ngân hàng đã và đang tạo ra các phương tiện thanh toán hiện tại, tiện lợi cho khách hàng như : thanh toán qua Internet, qua máy ATM, qua điện thoai di dng .4, CHỨC HĂNG trung gian tin dung.
Khi ngân hàng năm trong tay nhiều khoản tải chính của xã hội thì vẫn để nảy sinh ra ngân hàng là nơi giữ nhiều tiên nhất, Nhờ thực hiện chức năng thủ quỹ và nhờ vào hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển mã người rút tiễn ra khỏi ngân hàng thì ít, người ký thác tiễn vào ngân hàng này cảng nhiều, Lợi dụng sự chênh lệch giữa thu tiền mặt vào thì nhiều, chỉ tiền ra thì ít nên các ngân hàng có thể sử dụng một phan tién mat dé cho vay khách hàng cần tiền mã họ chưa có được các khoản thu, Nói khác đi, ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng với cam kết của khách hàng là khách hàng sẽ hoàn trả cho ngân hàng toàn bộ số vốn vay và một khoản tiền lãi kèm theo vảo một thời hạn cụ thể.