Khóa luận tốt nghiệp quản trị kinh doanh giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại công ty tnhh thương mại và vận tải hưng phát

Khóa luận phân tích giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại công ty TNHH Thương mại và Vận tải Hưng Phát.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

69
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS

1.1. Tổng quan về logistics

1.2. Sự ra đời và phát triển của logistics

1.3. Khái niệm về logistics

1.4. Sự hình thành và phát triển logistics

1.5. Nguyên nhân ra đời và phát triển logistics trong doanh nghiệp

1.6. Đặc điểm của logistics

1.7. Phân loại logistics

1.7.1. Phân loại theo các hình thức logistics

1.7.2. Phân loại theo quá trình

1.7.3. Phân loại theo đối tượng hàng hóa

1.8. Vai trò của logistics

1.8.1. Vai trò của logistics đối với hoạt động kinh tế quốc tế

1.8.2. Vai trò của logistics đối với nền kinh tế

1.8.3. Vai trò của logistics đối với các doanh nghiệp

1.9. Xu hướng phát triển logistics trên thế giới

1.10. Nội dung hoạt động logistics và các chỉ tiêu đánh giá

1.10.1. Nội dung hoạt động của dịch vụ logistics

1.10.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ logistics của doanh nghiệp

1.10.3. Các yếu tố cơ bản của hệ thống logistics

1.10.3.1. Cơ sở hạ tầng
1.10.3.2. Đường hàng không
1.10.3.3. Mạng lưới công nghệ thông tin
1.10.3.4. Khung pháp lý và thể chế
1.10.3.5. Người cung ứng dịch vụ logistics (Logistics Service Provider – LSP)
1.10.3.6. Người sử dụng dịch vụ logistics

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI HƢNG PHÁT

2.1. Giới thiệu về Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát

2.1.1. Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát

2.2. Cơ cấu tổ chức

2.3. Thực trạng hoạt động logistics tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát

2.3.1. Dịch vụ thông quan Hải quan

2.3.1.1. Quy trình thực hiện
2.3.1.2. Đánh giá về hiệu quả hoạt động

2.3.2. Dịch vụ vận tải

2.3.2.1. Quy trình thực hiện
2.3.2.2. Đánh giá chủ quan

2.4. Phân tích nguyên nhân của các khó khăn, hạn chế trong hoạt động nâng cao hiệu quả hoạt động logistics tại Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát

2.4.1. Các nhân tố khách quan

2.4.1.1. Nhân tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế
2.4.1.2. Các nhân tố thuộc môi trường trong nước

2.4.2. Các nhân tố chủ quan

2.4.2.1. Nguồn lực tài chính
2.4.2.2. Nguồn nhân lực
2.4.2.2.1. Sơ bộ về lao động của Công ty TNHH thương mại và vận tải Hưng Phát
2.4.2.2.2. Tính lương, thưởng trong doanh nghiệp
2.4.2.3. Cơ sở vật chất

3. CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI HƢNG PHÁT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Việc nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Các giải pháp cần thiết để cải thiện hiệu quả dịch vụ logistics bao gồm tối ưu hóa quy trình, ứng dụng công nghệ và cải thiện quản lý chuỗi cung ứng.

1.1. Khái niệm và vai trò của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm nhiều công đoạn như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho và làm thủ tục hải quan. Vai trò của logistics là đảm bảo hàng hóa được cung cấp đúng thời gian và địa điểm, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.2. Tình hình hiện tại của dịch vụ logistics tại Việt Nam

Dịch vụ logistics tại Việt Nam đang phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Chỉ khoảng 25% nhu cầu thị trường được đáp ứng, chủ yếu là các dịch vụ đơn lẻ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có những giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động.

II. Những thách thức trong việc nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng ngành logistics tại Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức. Cơ sở hạ tầng yếu kém, chi phí cao và thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng là những vấn đề cần giải quyết.

2.1. Cơ sở hạ tầng logistics còn yếu kém

Cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam chưa phát triển đồng bộ, dẫn đến chi phí logistics cao hơn so với các nước trong khu vực. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng là cần thiết để nâng cao hiệu quả dịch vụ.

2.2. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng

Nguồn nhân lực trong ngành logistics còn thiếu hụt về số lượng và chất lượng. Việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả dịch vụ.

III. Phương pháp tối ưu hóa logistics hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics, các doanh nghiệp cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc tối ưu hóa quy trình đến ứng dụng công nghệ thông tin, tất cả đều góp phần quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả.

3.1. Tối ưu hóa quy trình vận hành

Việc tối ưu hóa quy trình vận hành giúp giảm thiểu thời gian và chi phí. Các doanh nghiệp cần phân tích và cải tiến từng bước trong quy trình logistics để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong logistics

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và theo dõi hàng hóa. Việc áp dụng các phần mềm quản lý logistics giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu sai sót.

IV. Ứng dụng thực tiễn các giải pháp logistics

Các giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics đã được áp dụng thành công tại nhiều doanh nghiệp. Những kết quả đạt được không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

4.1. Kết quả từ việc tối ưu hóa quy trình

Nhiều doanh nghiệp đã ghi nhận sự cải thiện rõ rệt trong hiệu quả hoạt động sau khi tối ưu hóa quy trình logistics. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao tốc độ giao hàng.

4.2. Tác động của công nghệ đến hiệu quả logistics

Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp nhiều doanh nghiệp cải thiện khả năng theo dõi và quản lý hàng hóa. Điều này dẫn đến việc giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả tổng thể.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics tại Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả là cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

5.1. Tương lai của ngành logistics tại Việt Nam

Ngành logistics tại Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của ngành.

5.2. Những xu hướng mới trong logistics

Xu hướng tự động hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong logistics đang ngày càng trở nên phổ biến. Các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng này để nâng cao hiệu quả và cạnh tranh trên thị trường.

16/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp quản trị kinh doanh giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại công ty tnhh thương mại và vận tải hưng phát

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, danh mục bảng biểu, kết luận và tài liệu tham khảo thì chuyên đề được chia thành 3 chương CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI HƢNG PHÁT CHƢƠNG III. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI HƢNG PHÁT Sinh viên: Vũ Hoàng Dương - Lớp: QTTN101 3 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS 1. Tổng quan về logistics 1. Sự ra đời và phát triển của logistics 1.

Khái niệm về logistics Logistics có nguồn gốc từ hai chữ Logis và stic, có nghĩa là tính toán một cách “hợp lý”. Như vậy, nội dung của logistics bao gồm việc hướng dẫn mọi người cách thức thực hiện công việc sao cho hợp lý nhất. Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng anh trong cuốn “Oxford University Press, 1995” như sau: “Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó”. Logistics gồm có 3 mảng chính là kho bãi, giao nhận và vận chuyển.

công việc cụ thể là quản lý hàng tồn, giao nhận và nhận tiền theo đơn đặt hàng, phân phối hàng đến các đại lý… Công việc đòi hỏi phải lập kế hoạch tốt, có sự linh hoạt, nhạy bén về kinh doanh và điều phối tốt. Các công ty giao nhận trên thế giới nói chung và ở các nước ASEAN nói riêng, ngày càng nhận thấy rằng các chi phí của các dịch vụ lập kế hoạch, sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hóa để sẵn sàng chuyên chở (inventory costs) và chi phí vận tải đơn thuần (transport costs) có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trên nhiều khía cạnh (perspective). Nếu biết tận dụng công nghệ tin học để tổ chức tốt và chặt chẽ các khâu này, thì giá thành của hàng hóa sẽ giảm đáng kể, do vậy năng lực cạnh tranh được nâng cao. Vì vậy, Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ (do đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều: logistics).

Logistics luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level). Chính vì vậy, nói tới logistics bao giờ người ta cũng nói đến một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain). Uỷ ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương Sinh viên: Vũ Hoàng Dương - Lớp: QTTN101 4 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng ứng với từng giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ- 1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu giữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thu, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng.

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (điều 233): trong Luật Thương mại 2005, lầm đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”. Tóm lại, Logistics có thể được định nghĩa như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu khách hàng”. Sự hình thành và phát triển logistics Thuật ngữ logistics dịch ra tiếng Việt là “hậu cần”, “ngành hậu cần” hay “tiếp vận” hoặc là “tổ chức dịch vụ cung ứng” hay “hệ thống phân phối vật chất”.

Như đc nói trên, thuật ngữ này là một thuật ngữ quân sự, dùng trong quân đội. Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc vận chuyển và cung cấp lương thực, thực phẩm, trang thiết bị… đúng lúc đúng chỗ khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu. Ngày nay thuật ngữ “logistics" đã được phát triển, mở rộng với nghĩa là quản lý “management”. Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tùy theo giác độ tiếp cận các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ như: logistics kinh doanh, logistics in bound, logistics out bound; phân phối vật chất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật hay quản lý logistics thì đây đều là các thuật ngữ diễn tả cùng một chủ đề, đó chính là cái mà chúng ta gọi là logistics.

Logistics diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản phẩm đi vào – qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay người tiêu dùng Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay, công nghiệp và thương mại thế giới trải qua những biến đổi sâu sắc từ nền kinh tế dựa trên cơ sở sản xuất Sinh viên: Vũ Hoàng Dương - Lớp: QTTN101 5 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng hàng loạt đòi hỏi một lượng hàng hóa lớn đồng nhất sang nên kinh tế mà tính độc đáo và đa dạnh của hàng hóa được nhấn mạnh. Trong buôn bán, người bán không nhất thiết là người sản xuất, người mua cũng không chắc là người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình hàng hóa từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều trung gian lần lượt đóng vai trò người bán hay người mua và là một bộ phận của toàn bộ quá trình lưu thông hàng hóa. Tính phong phú của hàng hóa cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có một sự quản lý chặt chẽ, điều này đã đặt ra cho các nhà sản xuất kinh doanh một yêu cầu mới.

Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà sản xuất phải luôn tìm cách duy trì một lượng hàng tồn kho nhỏ nhất. Từ những lí do trên yêu cầu hoạt động vận tải nói riêng và lưu thông hàng hóa nói chung phải đảm bảo cho nguyên liệu hàng hóa được cung ứng kịp thời, đúng lúc, mặt khác phải tăng cường vận chuyển với mục tiêu không để hàng trong kho nhằm giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong quá trình sản xuất và lưu thông- logistics trong doanh nghiệp đã ra đời Theo nghiên cứu của Ủy Ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and Pacific – ESCAP) của liên hiệp quốc về các giai đoạn phát triển của logistics, người ta chia thành 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: phân phối vật chất (Physical Distribution) Vào những năm 60-70 của thế ký XX, người ta quan tâm tới việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo việc giao hàng, thành phẩm và bán thành phẩm… cho khách hàng. Những hoạt động đó là vận tải, phân phối, bảo quản, định mức hàng tồn khó, bao bì đóng gói, di chuyển nguyên liệu… Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất hay logistics đầu vào. Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (logistics system) Thời kỳ này khoảng những năm 80-90 của thế kỷ XX, các công ty kết hợp chặt chẽ sự quản lý giữa hai mặt đầu vào (In Bound Logistics) và đầu ra (Out Bound Logistics) để giảm tối đa chi phí.

Như vậy sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng nguyên liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm tới tay người tiêu dùng đã đảm bảo sự ổn định và tính liên tục của các luồng vận chuyển, sự kết hợp này được mô tả là hệ thống logistics. Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp ( Supply Chain Management) Giai đoạn diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý dây chuyền cung cấp - đầy là khái niệm có tính chiến lược về quản lý nối tiếp Sinh viên: Vũ Hoàng Dương - Lớp: QTTN101 6 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng các hoạt động từ người cung ứng - đến nhà sản xuất - đến khách hàng cùng với các dịch vụ làm tăng thêm giá trị sản phẩm như cung cấp chứng từ liên quan, theo dõi, kiểm tra… Khái niệm này coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất với người cung ứng, khách hàng cũng như những người có liên quan tới hệ thống quản lý như công ty vận tải, lưu kho và những cung cấp công nghệ thông tin ESCAP cũng định nghĩa quản lý dây chuyền cung ứng (Supply Chain Management) là logistics là “khái niệm đồng bộ hóa những hoạt động của nhiều tổ chức trong dây chuyền logistics và phản ánh trở lại những thông tin cần thiết đúng thời gian, bằng cách sử dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số. Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng “tiếp cận”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tế sản xuất – kinh doanh và cho đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang hiệu quả kinh tế cao.

Nguyên nhân ra đời và phát triển logistics trong doanh nghiệp Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thế giới thứ II, rất nhiều kỹ năng về logistics được biết đến nhưng lại bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến vì lúc này sự chú ý của các nhà quản trị Marketing đang hướng về việc đáp ứng những nhu cầu hàng hóa sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế nà những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng phân phối vật chất. Cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống để quản lý chi phí hiệu quả hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ